Trang chủ

 
 

Giới thiệu Cục Hải quan ĐN

 

Văn bản mới

 
Thủ tục Hải quan (GSQL)
 
Hải quan điện tử
 
Thuế Hải quan
 

Xử phạt vi phạm hành chính

 

Văn bản Cục Hải quan ĐN

 

Văn bản Luật

 

Văn bản Chính phủ

 

Văn bản các Bộ, Ngành

 
Thời hiệu văn bản
 

Tra cứu biểu thuế

 
Tỷ giá hối đoái
 

Danh bạ điện thọai

 

Thông tin về WTO

 

Góp ý

 
 

Tìm kiếm với Google

Lượt truy cập thứ

US open golf tickets

Free Website Counters

Liên kết website

 


Đường dây nóng chống buôn lậu và gian lận thương mại
0613.895.710
0618.878.070
0913.941.344
 
Trợ giúp

.

 

 

- Cải cách hành chính để Logistics Việt Nam cất cánh ( Tạp chí VietNam Logistics Xuân Tân Mão 2011)

- Người "bay" giữa rừng đêm ( Báo Đồng Nai Xuân Tân Mão 2011)

- Hải quan điện tử trong mắt doanh nghiệp FDI ( Báo Hải quan Xuân Tân Mão 2011)

- Cục Hải quan Đồng Nai được tặng Bằng khen của UBND tỉnh Đồng Nai do có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 (QĐ 16/QĐ-UBND ngày 05/01/2010)

- Cục Hải quan Đồng Nai và Đồng chí Trương Thiện Thành được Hội Cựu chiến binh Việt Nam khen thưởng do có thành tích xuất sắc tại Hội Nghị điển hình tiên tiến của Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam ngày 10/09/2010 (Báo Đồng Nai số 1853 ngày 11/09/2010)

- Cục trưởng Cục HQĐN Lê Văn Danh: Tiếp tục đầu tư công nghệ để phục vụ doanh nghiệp tốt hơn (Báo Đồng Nai số 1849 ngày 02/09/2010)

Xem tiếp

 
 

TIN TỨC VÀ SỰ KIỆN

   

Cải cách hành chính để Logistics Việt Nam cất cánh

Dịch vụ Logistics ở Việt Nam chiếm khoảng 25% GDP. Ước tính GDP nước ta năm 2010 khoảng 100 tỉ USD. Như vậy, chi phí logistics chiếm khoảng 25 tỉ USD. Đây là một khoản tiền rất lớn. Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ 40 – 60% chi phí thì cũng đã là một thị trường dịch vụ khổng lồ.

Hiện nay, hạ tầng cơ sở logistics tại VN nói chung còn nghèo nàn, quy mô nhỏ, bố trí bất hợp lý. Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của VN bao gồm trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200km đường sắt, 42.000km đường thủy, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển là có thể tham gia việc vận tải hàng hóa quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa được trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành, xếp dỡ container.
Logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết đến sự cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp. Khái niệm logistics, theo ESCAP, là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và bao gồm cả vận chuyển các tài nguyên – yếu tố đầu vào và đầu ra từ nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
Đối với doanh nghiệp (DN), logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài toán đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả. Logistics có thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ... giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hiện đối với các DN Việt Nam, chi phí cho giao nhận kho vận còn chiếm tới 20% giá thành sản phẩm, trong khi tỷ lệ này ở các nước phát triển chỉ vào khoảng 8-12%. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa của các DN Việt Nam so với các DN nước ngoài vốn đã rất mạnh.
Ấy vậy mà còn nhiều chi phí trong suốt chuỗi...như hải quan, thuế, giao nhận, bến bãi không tính xuể. Đã đến lúc cần có sự cải cách mạnh mẽ để cho ngành logistics giải phóng hết tiềm năng để phát triển.
Theo Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính (TTHC) của thủ tướng Chính phủ, kết quả rà soát chỉ với 256 TTHC ưu tiên cho thấy, nếu triển khai thực sự có chất lượng, lợi ích của việc đơn giản hóa các TTHC này là rất lớn, lên tới 6.000 tỉ đồng mỗi năm. Thế nên, việc đơn giản hóa hơn 5.400 TTHC còn lại sẽ làm lợi tới hàng chục  ngàn tỉ đồng mỗi năm nếu các bộ, ngành, địa phương đưa ra được các phương án cải cách tích cực, vừa tạo thuận lợi cho người dân và DN, đồng thời vẫn bảo đảm được mục tiêu quản lý nhà nước.
Cải cách hành chính đối với ngành thuế và hải quan đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) đóng vai trò quyết định trong công cuộc cải cách hành chính hai ngành thuế và hải quan.
Tuy đã có những bước chuyển nhất định, nhưng trình độ quản lý thuế và hải quan của Việt Nam hiện vẫn ở mức thấp so với các nước tiên tiến trên thế giới.
Về thuế, theo báo cáo môi trường kinh doanh hàng năm, các tổ chức quốc tế xếp thứ hạng về thuế của Việt Nam ở mức 140/182 nước (Singapore thứ 5, Malaysia thứ 21, Thái Lan thứ 82); thời gian doanh nghiệp làm các thủ tục về thuế và các nghĩa vụ với ngân sách là 1.050 giờ (trong đó bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế chiếm 400 giờ), trong khi Singapore là 84 giờ, Indonesia là 266 giờ, Malaysia 145 giờ, Thái Lan 264 giờ.
Về hải quan, việc kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu thực hiện thủ công; khai hải quan, nộp thuế chưa được điện tử hóa...thời gian thông quan còn kéo dài; tỷ lệ hàng hóa thuộc diện kiểm tra thực tế cao gấp 2 lần các nước trong khu vực, gấp 3 lần các nước tiên tiến.
Hoàn thành giai đoạn 1 của Đề án 30, Bộ Tài chính đã hoàn thành thống kê và công bố 840 TTHC được thực hiện tại các cấp chính quyền thuộc nhiều lĩnh vực có liên quan thiết thực đến đời sống hàng ngày của người dân và DN như thuế, phí, lệ phí,; hải quan; tài chính doanh nghiệp; quản lý giá; dịch vụ tài chính...Trong đó, thuế là 330 thủ tục, hải quan là 239 thủ tục.
Thuế và Hải quan trong thời gian qua có nhiều chuyển biến đáng ghi nhận, nhưng so với yêu cầu và kỳ vọng vẫn cần có sự đột phá mạnh mẽ hơn nữa. Công tác cải cách hành chính của ngành cần một lộ trình để thay đổi trong khi các bộ TTHC và quy trình cải tiến cần có sự đồng bộ của nhiều bộ, ngành, địa phương. Trong khi đó, thiếu sự đồng bộ của các chuẩn mực với các thông lệ quốc tế và chất lượng nhân lực chuyên trách quá mỏng cần bổ sung tại các đơn vị hải quan, thuế cũng là nguyên nhân dẫn tới những bước tiến trong cải cách hành chính và hiện đại hóa chưa được như mong đợi. Bốn nguyên nhân khiến thủ tục thuế (kê khai, đăng ký, nộp, hoàn thuế...) chậm trễ, thời gian làm thủ tục kéo dài là do DN và người nộp thuế phải kê khai và nộp thuế nhiều lần; quy trình nghiệp vụ còn nhiều chồng chéo; chậm ứng dụng CNTT và chưa có mô hình, phương pháp quản lý hiện đại và nhân lực của ngành còn nhiều hạn chế.
Chúng ta đã một thời quen với suy nghĩ rằng, quan hệ hành chính là quan hệ giữa bên cho và bên nhận, hình thành nên tâm lý của người công chức trực tiếp giải quyết công việc là mình có quyền ban phát ân huệ cho người dân. Công chức trong bộ máy hành chính phải thay đổi nhận thức về quyền hạn và trách nhiệm, nhưng chính bản thân người dân cũng phải thay đổi, phải thấy rõ quyền của mình.
Có nhà kinh tế nước ngoài khi nghiên cứu về những trở ngại trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam đã nhận xét rằng, một trong những nhược điểm của người Việt Nam là dễ dàng thỏa hiệp trước những đòi hỏi có tính chất nhũng nhiễu của những cán bộ, nhân viên trong bộ máy hành chính. Để khắc phục tình trạng trên, Đề án 30 sẽ không “đóng” mà luôn huy động và sẽ tiếp thu các ý kiến của người dân, DN về các TTHC không hợp lý, hợp pháp và cần thiết. Lâu nay, nền hành chính nước ta vận hành thiếu một khuôn khổ, một công nghệ. Con người đặt trong khuôn khổ đó dù muốn hay không vẫn phải hành xử theo những quy tắc nhất định, nếu không sẽ bị gạt ra. Đó là công nghệ hành chính.
Để tăng cường sử dụng CNTT hỗ trợ công nghệ hành chính, Bộ Tài chính chủ trương cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế thông qua việc thực hiện đề án “Thí điểm nộp hồ sơ thuế qua mạng internet trên địa bàn Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu” vào tháng 08.2009; năm 2010 áp dụng nộp hồ sơ khai thuế qua mạng đối với các doanh nghiệp ở những địa bàn có điều kiện (đảm bảo khoảng 80% số thu ngân sách nhà nước (NSNN); Mở rộng triển khai dự án tập trung thu NSNN qua việc ứng dụng và kết nối thông tin giữa cơ quan thuế, hải quan, kho bạc và tài chính, trong đó cuối năm 2009 triển khai ở 33 tỉnh, thành phố; Triển khai dự án “nộp thuế qua ngân hàng” trên các địa bàn lớn, thí điểm việc nộp thuế qua máy ATM, bằng tài khoản tại ngân hàng qua điện thoại di động và các hình thức nộp thuế qua hệ thống ngân hàng thương mại...
Đối với ngành hải quan, mở rộng khai hải quan từ xa qua mạng tại tất cả các Cục Hải quan các tỉnh, thành phố, nâng tỷ lệ khai hải quan từ xa qua mạng trên cả nước lên tới 80% trong năm 2009 và trên 90% trong năm 2010; Xây dựng quy trình về quản lý, giám sát hải quan cảng biển quốc tế, hàng hóa chuyển phát nhanh quốc tế, quy định về địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung, đầu tư phương tiện hiện đại hóa giám sát kiểm tra hải quan, đưa máy soi container Cát Lái (3.2010) và Hải Phòng (8.2010) vào hoạt động, đầu tư hệ thống giám sát hải quan (camera, cân hàng hóa điện tử, máy soi hàng hóa...) ở các cửa khẩu quan trọng; Thực hiện đề án nâng cấp, đổi mới hệ thống quản lý rủi ro, đến cuối năm 2009, giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa xuấ nhập khẩu xuống dưới 20%, trong đó 70% các lô hàng kiểm tra thực tế hàng hóa được dựa trên tiêu chí quản lý rủi ro...
Tổng cục Hải quan đã nâng cấp phần mềm cho phù hợp với quy định mới. Tại các đơn vị hải quan địa phương cũng đã cài đặt phần mềm thông quan điện tử và thực hiện đào tạo cho cán bộ hải quan và DN làm quen với phương thức xử lý thông tin trên hệ thống mới. Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng cử các tổ công tác hỗ trợ triển khai để giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.
Để chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật phục vụ triển khai thủ tục hải quan điện tử, ngành hải quan đang nâng nấp, bổ sung thiết bị, đường truyền đảm bảo đủ băng thông và đường dự phòng để vận hành suông sẻ. Cùng với đó là triển khai cài đặt phần mềm thông quan điện từ, bao gồm cả đào tạo cán bộ hải quan và DN có thể vận hành tốt phương thức xử lý thông tin trên hệ thống thông quan điện tử. Cùng với việc triển khai mở rộng thủ tục hải quan điện tử, ngành sẽ triển khai nâng cấp các hệ thống ứng dụng CNTT đáp ứng việc thay đổi quy trình nghiệp vụ hải quan tiếp tục áp dụng khai báo từ xa tại các đơn vị chưa mở rộng thủ tục hải quan điện tử... Công tâm mà nói, về vấn đề này Tổng cục Hải quan Việt Nam, Cục Hải quan một số tỉnh thành những năm qua cũng có những nổ lực và đầu tư đáng ghi nhận. Cục Hải quan Đồng Nai là một điển hình tiên tiến trong việc ứng dụng CNTT vào công tác cải cách hành chính và thủ tục hải quan điện tử.
Sau thời gian thực hiện thí điểm cải cách thủ tục hành chính tại một số cảng biển đạt được những kết quả khả quan, Chính phủ tiến hành triển khai áp dụng tại tất cả các cảng biển trên toàn quốc. Kết quả nổi bật của thí điểm là số lượng tàu ra vào tại các cảng biển TP HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh đều tăng từ 15-50% so với cùng kỳ.
Nếu như trước cải cách, tàu nhập cảnh phải có 56 loại giấy tờ, trong đó nộp 32 xuất trình 24 thì nay đã giảm chỉ còn phải nộp 9, xuất trình 11 giấy tờ. Tàu xuất cảnh cần 36 loại giấy tờ, trong đó nộp 17, xuất trình 19 cũng đã giảm xuống 6 loại giấy phải nộp. Quy trình làm thủ tục được sắp xếp hợp lý hơn. Thời gian làm thủ tục được kéo xuống còn 30-60 phút so với nhiều giờ, nhiều ngày trước đây. Nổi bật nhất là đã hình thành cơ chế “một cửa”, tập trung tại cảng vụ hàng hải (trước đây là 6 cửa, tương ứng 6 cơ quan chức năng) với phương thức điều hành mới mang lại hiệu quả to lớn cho DN và đất nước.
Đó là cơ sở vững chắc để khẳng định nếu cải cách hành chính được thực hiện tốt và nhân rộng trên phạm vi toàn quốc thì sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và từng DN nói riêng, trong đó có các DN logistics sẽ được nâng lên.

Qua rà soát TTHC giai đoạn 2, Tổng cục Hải quan đã đề nghị đưa ra khỏi bộ TTHC 11 thủ tục, đề nghị hủy bỏ 5 thủ tục, sửa đổi bổ sung 111 TTHC, đồng thời tiếp tục rà soát sửa đổi bổ sung và hoàn thiện các quy trình thủ tục hải quan, quy trình quản lý thuế, tiếp tục duy trì cơ chế một cửa, đối thoại với DN để kịp thời giải quyết các vướng mắc của DN và người dân, tăng cường cung cấp hỗ trợ thông tin cho DN.

                                                                                              (Tạp chí VietNam Logistics Xuân Tân Mão 2011)

 

 

Chinese

 
 

Cơ quan chủ quản: Tổng cục Hải quan - Địa chỉ: Số 9A - Đồng Khởi - Biên Hoà - Đồng Nai Điện thoại: 061.895710 - Fax: 061.895711
Số giấy phép: 277/GP-BVHTT, cấp ngày: 12/09/2006 - Email: customsdn@hcm.vnn.vn
® Ghi rõ nguồn "dncustoms" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.