|
Bộ Thương mại vừa chuyển đến Uỷ
ban Đối ngoại Quốc hội bản tóm
tắt kết quả đàm phán gia nhập
WTO để Ủy ban làm thẩm tra về
việc Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO).
Quốc hội sẽ phê chuẩn văn kiện
gia nhập WTO vào ngày 27 -
28/11/2006. Sau khi Quốc hội phê
chuẩn, chúng ta sẽ thông báo cho
WTO và 30 ngày sau Việt Nam sẽ
chính thức trở thành thành viên
WTO và các cam kết của ta bắt
đầu có hiệu lực.
Theo kết quả đàm phán, về cam
kết đa phương, Việt Nam đồng ý
tuân thủ toàn bộ các hiệp định
và quy định mang tính ràng buộc
của WTO từ thời điểm gia nhập.
Tuy nhiên do nước ta đang phát
triển ở trình độ thấp lại đang
trong quá trình chuyển đổi nên
ta yêu cầu và được WTO chấp nhận
cho hưởng một thời gian chuyển
đổi để thực hiện một số cam kết
có liên quan đến thuế tiêu thụ
đặc biệt, trợ cấp phi nông
nghiệp, quyền kinh doanh.
Cụ thể, Việt Nam chấp nhận bị
coi là nền kinh tế phi thị
trường trong 12 năm (không muộn
hơn 31/12/2018). Tuy nhiên,
trước thời điểm trên, nếu ta
chứng minh được với đối tác nào
là kinh tế Việt Nam hoàn toàn
hoạt động theo cơ chế thị trường
thì đối tác đó ngừng áp dụng chế
độ “phi thị trường” đối với ta.
Chế độ “phi thị trường” chỉ có ý
nghĩa trong các vụ kiện chống
bán phá giá.
Các thành viên WTO không có
quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc
thù đối với hàng xuất khẩu nước
ta dù ta bị coi là nền kinh tế
phi thị trường.
Những cam kết về thương mại
Về dệt may, các thành viên WTO
sẽ không được áp dụng hạn ngạch
dệt may đối với ta khi vào WTO,
riêng trường hợp ta vi phạm quy
định WTO về trợ cấp bị cấm đối
với hàng dệt may thì một số nước
có thể có biện pháp trả đũa nhất
định. Ngoài ra thành viên WTO
cũng sẽ không được áp dụng tự vệ
đặc biệt đối với hàng dệt may
của ta.
Về trợ cấp phi nông nghiệp, ta
đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại
trợ cấp bị cấm theo quy định WTO
như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp
nội địa hóa. Tuy nhiên với các
ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất
khẩu đã cấp trước ngày gia nhập
WTO, ta được bảo lưu thời gian
quá độ là 5 năm, trừ ngành dệt
may.
Về trợ cấp nông nghiệp, ta cam
kết không áp dụng trợ cấp xuất
khẩu đối với nông sản từ thời
điểm gia nhập. Tuy nhiên ta bảo
lưu quyền được hưởng một số quy
định riêng của WTO dành cho nước
đang phát triển trong lĩnh vực
này. Đối với loại hỗ trợ mà WTO
quy định phải cắt giảm nhìn
chung ta duy trì được ở mức
không quá 10% giá trị sản lượng.
Ngoài mức này, ta còn bảo lưu
thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào
khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm.
Có thể nói, trong nhiều năm tới,
ngân sách của nước ta cũng chưa
đủ sức để hỗ trợ cho nông nghiệp
ở mức này. Các loại trợ cấp mang
tính chất khuyến nông hay trợ
cấp phục vụ phát triển nông
nghiệp được WTO cho phép nên ta
được áp dụng không hạn chế.
Về quyền kinh doanh bao gồm
quyền xuất nhập khẩu hàng hóa,
tuân thủ quy định WTO, ta đồng ý
cho doanh nghiệp và cá nhân nước
ngoài được quyền xuất nhập khẩu
hàng hóa như người Việt Nam kể
từ khi gia nhập, trừ đối với các
mặt hàng thuộc danh mục thương
mại nhà nước như: xăng dầu,
thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa
hình, báo chí và một số mặt hàng
nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép
sau một thời gian chuyển đổi như
gạo và dược phẩm.
Ta đồng ý cho phép doanh nghiệp
và cá nhân nước ngoài không có
hiện diện tại Việt Nam được đăng
ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt
Nam. Quyền xuất khẩu chỉ là
quyền đứng tên trên tờ khai hải
quan để làm thủ tục xuất nhập
khẩu.
Trong mọi trường hợp, doanh
nghiệp và cá nhân nước ngoài sẽ
không được tự động tham gia vào
hệ thống phân phối trong nước.
Các cam kết về quyền kinh doanh
sẽ không ảnh hưởng đến quyền của
ta trong việc đưa ra các quy
định để quản lý dịch vụ phân
phối, đặc biệt đối với sản phẩm
nhạy cảm như dược phẩm, xăng
dầu, báo - tạp chí...
Về thuế tiêu thụ đặc biệt đối
với rượu và bia, các thành viên
WTO đồng ý cho ta thời gian
chuyển đổi không quá 3 năm để
điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc
biệt đối với rượu và bia cho phù
hợp với quy định WTO. Hướng sửa
đổi là đối với rượu trên 20 độ
cồn ta hoặc sẽ áp dụng một mức
thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế
phần trăm. Đối với bia, ta sẽ
chỉ áp dụng một mức thuế phần
trăm.
Về doanh nghiệp Nhà nước, doanh
nghiệp thương mại Nhà nước, cam
kết của ta trong lĩnh vực này là
Nhà nước sẽ không can thiệp trực
tiếp hay gián tiếp vào hoạt động
doanh nghiệp Nhà nước. Tuy
nhiên, Nhà nước với tư cách là
một cổ đông được can thiệp bình
đẳng vào hoạt động của doanh
nghiệp như các cổ đông khác. Ta
cũng đồng ý cách hiểu mua sắm
của doanh nghiệp Nhà nước không
phải là mua sắm Chính phủ.
Tỷ lệ cổ phần thông qua quyết
định tại doanh nghiệp: Điều 52
và 104 của Luật doanh nghiệp quy
định một số vấn đề quan trọng có
liên quan đến hoạt động của công
ty TNHH và công ty cổ phần chỉ
được phép thông qua khi có số
phiếu đại diện ít nhất làng 65%
hoặc 75% vốn góp chấp thuận. Quy
định này có thể vô hiệu hóa
quyền của bên góp đa số vốn
trong liên doanh. Do vậy, ta đã
xử lý theo hướng cho phép các
bên tham gia liên doanh được
thỏa thuận vấn đề này trong điều
lệ công ty.
Về một số biện pháp hạn chế nhập
khẩu, ta đồng ý cho nhập khẩu xe
máy phân phối lớn không muộn hơn
ngày 31/5/2007. Với thuốc lá
điếu và xì gà, ta đồng ý bỏ biện
pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm
gia nhập. Tuy nhiên sẽ chỉ có
một doanh nghiệp Nhà nước được
quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá
điếu và xì gà. Mức thuế nhập
khẩu mà ta đàm phán được cho hai
mặt hàng này là rất cao. Với ô
tô cũ ta cho phép nhập khẩu các
loại xe đã qua sử dụng không quá
5 năm.
Về yêu cầu minh bạch hóa, ta cam
kết ngay từ khi gia nhập sẽ công
bố dự thảo các văn bản quy phạm
pháp luật do Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ quốc hội và Chính phủ
ban hành để lấy ý kiến nhân dân.
Thời hạn dành cho việc góp ý và
sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Ta
cũng cam kết sẽ đăng công khai
các văn bản pháp luật trên.
Về các nội dung khác liên quan
đến cam kết đa phương, về thuế
xuất khẩu ta chỉ cam kết sẽ giảm
thuế xuất khẩu đối với phế liệu
kim loại đen và màu theo lộ
trình, không cam kết về thuế
xuất khẩu của các sản phẩm khác.
Ta còn đàm phán một số vấn đề đa
phương khác như bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ, đặc biệt là sử dụng
phần mềm hợp pháp trong cơ quan
Chính phủ. Định giá tính thuế
xuất nhập khẩu, các biện pháp
đầu tư liên quan đến thương mại,
các biện pháp hàng rào kỹ thuật
trong thương mại... Với nội dung
này, ta cam kết tuân thủ các quy
định của WTO kể từ khi gia nhập.
Về thuế nhập khẩu, mức cam kết
chung là đồng ý ràng buộc mức
trần cho toàn bộ biểu thuế
(10.600 dòng). Mức thuế bình
quân toàn biểu được giảm từ mức
hiện hành 17,4% xuống còn 13,4%
thực hiện dần trung bình trong
5-7 năm. Mức thuế bình quân đối
với hàng nông sản giảm từ mức
hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%
thực hiện trong 5-7 năm. Với
hàng công nghiệp từ 16,8% xuống
còn 12,6% thực hiện chủ yếu
trong vòng 5-7 năm.
Cụ thể, có khoảng hơn 1/3 số
dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ
yếu là các dòng có thuế suất
trên 20%. Các mặt hàng trọng
yếu, nhạy cảm đối với nền kinh
tế như nông sản, xi măng, sắt
thép, vật liệu xây dựng, ôtô -
xe máy... vẫn duy trì được mức
bảo hộ nhất định.
Những ngành có mức giảm thuế
nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá
và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng
chế tạo khác, máy móc và thiết
bị điện - điện tử. Ta đạt được
mức thuế trần cao hơn mức đang
áp dụng đối với nhóm hàng xăng
dầu, kim loại, hóa chất là
phương tiện vận tải.
Ta cũng cam kết cắt giảm thuế
theo một số hiệp định tự do theo
ngành của WTO giảm thuế xuống 0%
hoặc mức thấp. Đây là hiệp định
tự nguyện của WTO nhưng các nước
mới gia nhập đều phải tham gia
một số ngành. Ngành mà ta cam
kết tham gia là sản phẩm công
nghệ thông tin, dệt may và thiết
bị y tế.
Ta cũng tham gia một phần với
thời gian thực hiện từ 3 – 5 năm
đối với ngành thiết bị máy bay,
hóa chất và thiết bị xây dựng.
Về hạn ngạch thuế quan, ta bảo
lưu quyền áp dụng với đường,
trứng gia cầm, lá thuốc lá và
muối.
Những cam kết về dịch vụ
Về cam kết mở của thị trường
dịch vụ. Xét về diện cam kết,
trong BTA ta đã cam kết 8 ngành
dịch vụ khoảng 65 phân ngành.
Trong thỏa thuận WTO, ta cam kết
đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo
phân ngành khoảng 110.
Về mức độ cam kết. Thỏa thuận
WTO đi xa hơn BTA nhưng không
nhiều. Với hầu hết các ngành
dịch vụ, trong đó có những ngành
nhạy cảm như bảo hiểm, phân
phối, du lịch... ta giữ được mức
độ cam kết gần như trong BTA.
Riêng viễn thông, ngân hàng và
chứng khoán, để sớm kết thúc đàm
phán, ta đã có một số bước tiến
nhưng nhìn chung không quá xa so
với hiện trạng và đều phù hợp
với định hướng phát triển đã
được phê duyệt cho các ngành
này.
Trong đó cam kết chung cho các
ngành dịch vụ về cơ bản như BTA.
Trước hết, công ty nước ngoài
không được hiện diện tại Việt
Nam dưới hình thức chi nhánh,
trừ phi điều đó được ta cho phép
trong từng ngành cụ thể mà những
ngành như thế là không nhiều.
Ngoài ra, công ty nước ngoài tuy
được phép đưa cán bộ quản lý vào
làm việc tại Việt Nam nhưng ít
nhất 20% cán bộ quản lý của công
ty phải là người Việt Nam.
Cuối cùng, ta cho phép tổ chức
và cá nhân nước ngoài được mua
cổ phần trong các doanh nghiệp
Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù
hợp với mức mở cửa thị trường
ngành đó. Riêng ngân hàng ta chỉ
cho phép ngân hàng nước ngoài
mua tối đa 30% cổ phần.
Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu
khí, ta đồng ý cho phép các
doanh nghiệp nước ngoài được
thành lập công ty 100% vốn nước
ngoài sau 5 năm kể từ khi gia
nhập để đáp ứng các dịch vụ hỗ
trợ khai thác dầu khí.
Tuy nhiên, ta còn giữ nguyên
quyền quản lý các hoạt động trên
biển, thềm lục địa và quyền chỉ
định các công ty thăm dò, khai
thác tài nguyên. Ta cũng bảo lưu
được một danh mục các dịch vụ
dành riêng cho các doanh nghiệp
Việt Nam như dịch vụ bay, dịch
vụ cung cấp trang thiết bị và
vật phẩm cho dàn khoan xa bờ...
Tất cả các công ty vào Việt Nam
cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí
đều phải đăng ký với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền.
Dịch vụ viễn thông, ta có thêm
một số nhân nhượng so với BTA
nhưng ở mức độ hợp lý, phù hợp
với chiến lược phát triển của
ta. Cụ thể là cho phép thành lập
liên doanh đa số vốn nước ngoài
để cung cấp dịch vụ viễn thông
không gắn với hạ tầng mạng, phải
thuê mạng do doanh nghiệp Việt
Nam nắm quyền kiểm soát và nới
lỏng một chút về việc cung cấp
dịch vụ qua biên giới để đổi lấy
giữ lại hạn chế áp dụng cho viễn
thông có gắn với hạ tầng mạng
chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước
nắm đa số vốn mới đầu tư hạ tầng
mạng, nước ngoài chỉ được góp
vốn đến 49% và cũng chỉ được
liên doanh với đối tác Việt Nam
đã được cấp phép.
Như vậy, với dịch vụ có gắn với
hạ tầng mạng, ta vẫn giữ mức cam
kết như BTA, một yếu tố quan
trọng góp phần bảo đảm an ninh
quốc phòng.
Dịch vụ phân phối, về cơ bản giữ
được như BTA, tức là khá chặt so
với các nước mới gia nhập. Trước
hết, về thời điểm cho phép thành
lập doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài là như BTA vào 1/1/2009.
Thứ hai, tương tự như BTA, ta
không mở cửa thị trường phân
phối xăng dầu, dược phẩm, sách
báo, tạp chí, băng hình, thuốc
lá, gạo, đường và kim loại quý
cho nước ngoài. Nhiều sản phẩm
nhạy cảm như sắt thép, xi măng,
phân bón... ta chỉ mở cửa thị
trường sau 3 năm.
Quan trọng nhất, ta hạn chế khá
chặt chẽ khả năng mở điểm bán lẻ
của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, mở điểm bán lẻ thứ
hai trở đi phải được ta cho phép
theo từng trường hợp cụ thể.
Dịch vụ bảo hiểm, về tổng thể,
mức độ cam kết ngang BTA, tuy
nhiên, ta đồng ý cho Hoa Kỳ
thành lập chi nhánh bảo hiểm phi
nhân thọ sau 5 năm kể từ ngày
gia nhập.
Dịch vụ ngân hàng, ta đồng ý cho
thành lập ngân hàng con 100% vốn
nước ngoài không muộn hơn ngày
1/4/2007. Ngoài ra ngân hàng
nước ngoài muốn được thành lập
chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi
nhánh đó không được phép mở chi
nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn
chế về huy động tiền gửi bằng
VND từ thể nhân Việt Nam trong
vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập
WTO. Ta vẫn giữ được hạn chế về
mua cổ phần trong ngân hàng Việt
Nam, không quá 30%. Đây là hạn
chế đặc biệt có ý nghĩa đối với
ngành ngân hàng.
Dịch vụ chứng khoán, ta cho phép
thành lập công ty chứng khoán
100% vốn nước ngoài và chi nhánh
sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO
Các cam kết khác, với các ngành
còn lại như du lịch, giáo dục,
pháp lý, kế toán, xây dựng, vận
tải..., mức độ cam kết về cơ bản
không khác xa so với BTA. Ngoài
ra không mở cửa dịch vụ in ấn-
xuất bản.
|