Về cam kết đa phương
Kết quả mà Việt Nam đàm phán được là
trong khoảng thời gian 12 năm (không muộn hơn 31/12/2018) WTO
chấp nhận coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường. Tuy nhiên,
trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với đối tác
nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị
trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ "phi thị trường"
đối với Việt Nam. Chế độ "phi thị trường" này chỉ có ý nghĩa
trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các thành viên WTO không có
quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu của
Việt Nam, dù Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường.
Về dệt may, các thành viên
WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi
Việt Nam vào WTO. Riêng trường hợp Việt Nam vi phạm quy định WTO
về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì sẽ được xem xét, xử
lý theo quy định của WTO.
Về trợ cấp phi nông nghiệp,
Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo
quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa. Tuy
nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu đã
cấp trước ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá
độ là 5 năm, trừ ngành dệt may.
Về trợ cấp nông nghiệp, Việt
Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ
thời điểm gia nhập. Tuy nhiên ta bảo lưu quyền được hưởng một số
quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh
vực này. Đối với các loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm,
nhìn chung Việt Nam duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản
lượng. Ngoài mức này, Việt Nam còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ
trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm. Các loại trợ cấp mang
tính khuyến nông (như hỗ trợ thủy lợi) là trợ cấp "xanh", được
WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế.
Về quyền kinh doanh bao gồm quyền
xuất, nhập khẩu hàng hóa, tuân thủ quy định WTO, Việt Nam
đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất
khẩu và nhập khẩu hàng hóa như doanh nghiệp và cá nhân người
Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh
mục thương mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà,
băng đĩa hình, báo, tạp chí và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà
Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi như gạo và
dược phẩm.
Việt Nam đồng ý cho phép doanh
nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam
được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam. Quyền xuất nhập
khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục
xuất nhập khẩu. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp và cá nhân
nước ngoài sẽ không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối
trong nước. Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng
đến quyền của Việt Nam trong việc đưa ra các quy định để quản
lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với sản phẩm nhạy cảm như
dược phẩm, xăng dầu, báo, tạp chí...
Về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với
rượu và bia, các thành viên WTO đồng ý cho Việt Nam thời
gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ
đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp với quy định WTO. Hướng
sửa đổi là: đối với rượu trên 20 độ cồn, Việt Nam hoặc sẽ áp
dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm; đối với
bia, Việt Nam sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm.
Về doanh nghiệp Nhà nước, doanh
nghiệp thương mại Nhà nước, cam kết của Việt Nam trong lĩnh
vực này là Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp
vào hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước
với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt
động của doanh nghiệp như các cổ đông khác. Việt Nam cũng đồng ý
không coi mua sắm của doanh nghiệp Nhà nước là mua sắm Chính
phủ.
Tỷ lệ cổ phần thông qua quyết định
tại doanh nghiệp: Điều 52 và 104 của Luật doanh nghiệp quy định
một số vấn đề quan trọng có liên quan đến hoạt động của công ty
TNHH và công ty cổ phần chỉ được phép thông qua khi có số phiếu
đại diện ít nhất làng 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận. Quy định
này có thể vô hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn trong liên
doanh. Do vậy, Việt Nam đã xử lý theo hướng cho phép các bên
tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề này trong điều lệ
công ty.
Về một số biện pháp hạn chế nhập
khẩu, Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân phối lớn
không muộn hơn ngày 31/5/2007. Tuy nhiên, Việt Nam bảo lưu quyền
áp dụng các biện pháp như quy định độ tuổi người sử dụng và đưa
ra chế độ cấp bằng lái đặc biệt. Với thuốc lá điếu và xì gà,
Việt Nam đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm gia
nhập. Tuy nhiên, sẽ chỉ có một doanh nghiệp Nhà nước được quyền
nhập khẩu toàn bộ thuốc lá điếu và xì gà. Mức thuế nhập khẩu mà
Việt Nam đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất cao. Với ô tô
cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không
quá 5 năm nhưng bảo lưu quyền áp dụng thuế nhập khẩu cao và
nhiều biện pháp quản lý kỹ thuật chặt chẽ khác.
Về yêu cầu minh bạch hóa,
Việt Nam cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ công bố dự thảo các văn
bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ quốc hội và
Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Thời hạn dành cho
việc góp ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam cũng cam
kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí
hoặc Website Chính phủ, website của các Bộ, ngành.
Về thuế xuất khẩu, Việt Nam
chỉ cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen
và màu theo lộ trình, không cam kết về thuế xuất khẩu của các
sản phẩm khác.
Việt Nam còn đàm phán một số vấn đề
đa phương khác như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sử
dụng phần mềm hợp pháp trong cơ quan Chính phủ, định giá tính
thuế nhập khẩu, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại,
các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch, các hàng rào kỹ thuật trong
thương mại... Với các nội dung này, Việt Nam cam kết tuân thủ
các quy định của WTO kể từ khi gia nhập.
Cam kết về thuế nhập khẩu
Về mức cam kết chung, Việt
Nam đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600
dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành
17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm. Mức
thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5%
xuống còn 20,9%, thực hiện trong 5 năm. Với hàng công nghiệp,
mức bình quân giảm từ 16,8% xuống còn 12,6%, thực hiện chủ yếu
trong vòng 5-7 năm.
Đối với mức cam kết cụ thể,
sẽ có khoảng hơn 1/3 số dòng của biểu thuế phải cắt giảm, chủ
yếu là các dòng có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu,
nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép,
vật liệu xây dựng, ôtô - xe máy... vẫn duy trì được mức bảo hộ
nhất định.
Những ngành có mức giảm thuế nhiều
nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế
tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử. Việt Nam đạt được
mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng
dầu, kim loại, hóa chất, phương tiện vận tải.
Việt Nam cũng cam kết cắt giảm thuế
theo một số hiệp định tự do hoá theo ngành của WTO (giảm thuế
xuống 0% hoặc mức thấp). Đây là hiệp định tự nguyện của WTO
nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành.
Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ
thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế.
Việt Nam cũng tham gia một số phần
với thời gian thực hiện sau từ 3 – 5 năm đối với các ngành thiết
bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng.
Về hạn ngạch thuế quan, Việt
Nam bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá
và muối. Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là
tương đương mức thuế MFN (nguyên tắc tối huệ quốc của WTO), cụ
thể trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 40-50%, thuốc lá lá
30%, muối ăn 30%. Mức thuế ngoài hạn ngạch cao hơn rất nhiều.
Cam kết về mở cửa thị trường
dịch vụ
Về diện cam kết, trong Hiệp định
Thương mại Việt - Mỹ (BTA), Việt Nam đã cam kết 8 ngành dịch vụ
(khoảng 65 phân ngành). Trong thỏa thuận gia nhập WTO, Việt Nam
cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110. Về
mức độ cam kết, thỏa thuận WTO đi xa hơn BTA nhưng không nhiều.
Với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có những ngành nhạy cảm
như bảo hiểm, phân phối, du lịch... Việt Nam giữ được mức độ cam
kết gần như BTA. Riêng viễn thông, ngân hàng và chứng khoán, để
kết thúc đàm phán, Việt Nam có một số bước tiến nhưng nhìn chung
không quá xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng
phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này.
Nội dung cam kết của một số lĩnh vực
chủ chốt như sau:
Đối với cam kết chung cho các
ngành dịch vụ, về cơ bản như BTA. Trước hết, công ty nước
ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi
nhánh, trừ phi điều đó được Việt Nam cho phép trong từng ngành
cụ thể (những ngành như vậy không nhiều). Ngoài ra, công ty nước
ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam
nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt
Nam. Việt Nam cũng cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được
mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng với tỷ lệ phải
phù hợp với mức mở cửa thị trường ngành đó. Riêng ngân hàng,
Việt Nam chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài được mua tối đa 30%
cổ phần.
Về dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu
khí, Việt Nam đồng ý cho phép các doanh nghiệp nước ngoài
được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi
gia nhập để cung ứng các dịch vụ hỗ trợ cho khai thác dầu khí.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn giữ quyền quản lý các hoạt động trên
biển, thềm lục địa và quyền chỉ định công ty thăm dò, khai thác
tài nguyên. Việt Nam cũng bảo lưu được một danh mục các dịch vụ
dành riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam như dịch vụ bay, dịch
vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ...
Đặc biệt, tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ
trợ dầu khí đều phải đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Về dịch vụ viễn thông, Việt
Nam cho phép thành lập liên doanh đa số vốn nước ngoài để cung
cấp dịch vụ viễn thông không gắn với hạ tầng mạng (phải thuê
mạng của các doanh nghiệp do Việt Nam nắm quyền kiểm soát) và
nới lỏng một chút việc cung cấp dịch vụ qua biên giới để đổi lấy
việc giữ lại các hạn chế áp dụng cho viễn thông có gắn với hạ
tầng mạng (chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm đa số vốn mới
được đầu tư vào hạ tầng mạng, nước ngoài chỉ được góp vốn đến
49% trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có gắn với hạ tầng
mạng và cũng chỉ được liên doanh với các đối tác Việt Nam đã
được cấp phép).
Đối với dịch vụ phân phối, về
cơ bản giữ được như BTA, tức là khá chặt so với các nước mới gia
nhập. Trước hết, thời điểm cho phép thành lập doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài là như BTA (1/1/2009). Thứ hai, tương tự như BTA,
Việt Nam không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm,
sách, báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại
quý cho nước ngoài. Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi
măng, phân bón... Việt Nam chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm. Việt
Nam hạn chế khá chặt chẽ khả năng mở điểm bán lẻ của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (mở điểm bán lẻ thứ hai trở đi
phải được Việt Nam cho phép theo từng trường hợp cụ thể).
Đối với dịch vụ bảo hiểm, về
tổng thể, mức độ cam kết ngang với BTA. Tuy nhiên, Việt Nam đồng
ý cho Hoa Kỳ thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm
kể từ khi gia nhập.
Về dịch vụ ngân hàng, Việt
Nam đồng ý cho Hoa Kỳ thành lập ngân hàng con 100% vốn nước
ngoài không muộn hơn ngày 1/4/2007. Ngoài ra, tương tự như BTA,
ngân hàng nước ngoài được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng
chi nhánh đó sẽ không được phép mở chi nhánh phụ và vẫn phải
chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ thể nhân
Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO. Ta vẫn giữ
được hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam (không quá
30%. Đây là hạn chế đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành ngân hàng.
Về dịch vụ chứng khoán, Hoà
Kỳ được phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài
và chi nhánh sau 5 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO.
Đối với các cam kết khác với các
ngành còn lại như du lịch, giáo dục, pháp lý, kế toán, xây dựng,
vận tải..., mức độ cam kết về cơ bản không khác so với BTA.
Ngoài ra, Việt Nam cũng không mở cửa dịch vụ in ấn - xuất bản.