Hết hiệu lực theo Quyết định 87/2003/QĐ-BTC
|
Tổng
Cục Hải Quan -------- Số:
05 /1998/TT- TCHQ |
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam Độc
lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- Hà Nội, ngày 29 tháng 8
năm 1998 |
THÔNG TƯ
Hướng
dẫn thi hành Nghị định số 16/CP ngày 20/3/1996
và
Nghị định 54/1998/NĐ-CP ngày 21/7/98 của Chính phủ
về
xử phạt vi phạm hành chính
trong
lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan.
Căn cứ khoản 2 Điều
35 Nghị định 16/CP ngày 20 tháng 3 năm 1996 và Điều 7 Nghị định
54/1998/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ quy định việc xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải
quan, Tổng cục Hải quan hướng dẫn thực hiện như sau:
I- Những quy định
chung
1- Khi áp dụng xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan, phải
căn cứ vào Nghị định 16/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực quản lý Nhà nước về hải quan (những Điều còn hiệu lực thi hành)
và Nghị định 54/1998/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị
định 16/CP (Sau đây gọi chung là Nghị định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan).
2- Vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan là hành vi do cá nhân,
tổ chức thực hiện một cách cố ý, hoặc vô ý xâm phạm các quy tắc
quản lý Nhà nước về hải quan mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự, theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành
chính về hải quan.
3- Cá nhân, tổ chức
quy định tại khoản 2 Điều 1 được hiểu như sau:
a/ Tổ chức gồm: Cơ
quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội theo quy định của pháp
luật Việt Nam;
b/ Cá nhân gồm: Người
Việt Nam và người nước ngoài, người không quốc tịch có đủ năng lực
hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam;
c/ Cá nhân, tổ chức
Việt Nam và nước ngoài có hành vi vi phạm các quy tắc quản lý Nhà nước
về hải quan, đều phải chịu trách nhiệm hành chính về hải quan theo
quy định tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lý Nhà nước về hải quan (gọi tắt là Nghị định) và các Nghị định
khác của Chính phủ có quy định thẩm quyền xử phạt của cơ quan Hải
quan, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết có quy định khác.
4- Đối tượng bị xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan bao gồm: Người vận chuyển, người gửi hàng, người
nhận hàng hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người kinh doanh
kho ngoại quan, khi thực hiện vi phạm hành chính về hải quan; người
mua bán, chứa chấp, vận chuyển hàng hoá, vật phẩm có nguồn gốc xuất
nhập khẩu trái phép; người mua bán không đúng quy định hàng hoá
thuộc đối tượng ưu đãi thuế quan; người có hành vi cản trở, xúc
phạm nhân viên hải quan thi hành công vụ.
5- Một hành vi vi phạm
hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nhiều người cùng thực hiện một
vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt. Một người
thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành
vi vi phạm. Khi Quyết định xử phạt bằng tiền một người trong cùng thời
điểm thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì được cộng lại
thành mức phạt chung, nhưng phải ghi rõ mức phạt đối với từng hành
vi. Nếu một trong các hành vi vi phạm trên không thuộc thẩm quyền xử
phạt của cấp mình thì chuyển toàn bộ hồ sơ, tang vật lên cấp có thẩm
quyền xử phạt.
6- Đối với các vi phạm
phức tạp, khó xác định là vi phạm hành chính hay hình sự thì người
có thẩm quyền trao đổi với Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, đồng
thời gửi báo cáo Tổng cục Hải quan và chỉ ra quyết định xử phạt hành
chính khi đã có ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân.
7- Hàng hoá, vật phẩm
xuất khẩu, nhập khẩu là tang vật vi phạm hành chính thuộc đối tượng
chịu thuế thì ngoài việc phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn buộc
phải nộp đủ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các loại thuế khác và
lệ phí hải quan theo quy định của pháp
luật.
8- Những hành vi vi phạm
hành chính về hải quan quy định tại Nghị định trùng với các hành
vi vi phạm hành chính được quy định tại các Nghị định khác được
ban hành sau, có xác định thẩm quyền xử phạt của Hải quan, thì xử phạt theo quy định tại văn bản
được ban hành sau cùng.
Trong trường hợp văn
bản quy phạm pháp luật mới có cùng giá trị pháp lý, quy định trách
nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với vi phạm hành chính về hải quan xảy
ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.
9. a/ Đối với những
vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan thì cơ
quan nào phát hiện, lập biên bản đầu tiên, cơ quan đó ra quyết định
xử phạt;
b/ Những hành vi gian
lậu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chưa tới mức truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định tại Thông tư số 06/TTLN ngày 20 tháng 9 năm
1996 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án tối cao- Bộ Nội vụ,
do cơ quan khác không có thẩm quyền xử phạt phát hiện được thì
chuyển hồ sơ, tang vật để cơ quan Hải quan ra quyết định xử phạt
theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
c/ Đối với những vụ
vi phạm pháp luật hải quan đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà
không thuộc thẩm quyền của Hải quan thì khi chuyển giao hồ sơ cho cơ
quan tiến hành tố tụng, đồng thời chuyển vật chứng để cơ quan đó
bảo quản theo quy định tại khoản 2, Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự,
trừ trường hợp đặc biệt Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo khác;
d/ Đối với vi phạm hành
chính mà hồ sơ liên quan đến nhiều đơn vị Hải quan thì đơn vị nào
phát hiện, lập biên bản đầu tiên, đơn vị đó ra quyết định xử phạt;
những đơn vị liên quan có trách nhiệm chuyển giao đầy đủ tài liệu
cần thiết theo yêu cầu của đơn vị có thẩm quyền xử phạt; khi có ý
kiến khác nhau trong việc xử phạt thì trong thời hạn quy định phải báo
cáo xin ý kiến Tổng cục Trưởng Tổng cục Hải quan.
10- Khi phát hiện hành
vi vi phạm hành chính về hải quan của các doanh nghiệp khu chế xuất,
doanh nghiệp chế xuất trong khu công nghiệp, thì tuỳ theo tính chất và
mức độ vi phạm mà áp dụng mức phạt tương ứng với các hành vi vi
phạm được quy định trong Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về
hải quan và các Nghị định khác có quy định hành vi và thẩm quyền xử
phạt của cơ quan Hải quan.
11- Những trường hợp
không xử phạt vi phạm hành chính: Hàng hóa, vật phẩm, phương tiện vận
tải đưa vào Việt Nam do bị hoả hoạn, thiên tai, địch họa, sự kiện
bất ngờ, trong tình thế khẩn thiết, có khai báo hải quan, cơ quan có
thẩm quyền khác hoặc chính quyền địa phương theo đúng quy định của
pháp luật thì không bị xử phạt hành chính. Trường hợp không khai báo
sẽ bị xử phạt theo quy định tại điểm a khoản 2, Điều 6 Nghị định.
12- Trong Thông tư này,
những cụm từ sau đây được hiểu như sau:
a/ "Hàng hoá, vật
phẩm": Là hàng hoá, hành lý, bưu phẩm, bưu kiện, ngoại hối, tiền
Việt Nam và những vật phẩm khác, gọi chung là "hàng hoá, vật phẩm".
b/ "Mã hàng":
Là mã số thuế theo quy định pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu.
c/ "Hàng hoá khuyến
khích xuất khẩu, nhập khẩu": Là hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
không phải quản lý bằng hạn ngạch, giấy phép, kế hoạch định hướng.
d/ "Mức trung bình
của khung hình phạt": Là mức trung bình cộng của mức phạt tiền
đầu và cuối của khung phạt đối với một vi phạm hành chính.
e/ "Không đúng
khai báo hải quan": Là sự khác nhau giữa hàng hoá, vật phẩm khai
báo hải quan với hàng hoá, vật phẩm thực xuất, thực nhập.
g/ "Tái phạm":
Được hiểu là trong thời hạn một năm kể từ ngày có quyết định xử
phạt vi phạm hành chính về hải quan hoặc trong thời hạn chưa hết hiệu
lực thi hành quyết định xử phạt lại có vi phạm hành chính mới tương
tự về hải quan.
h/ "Vi phạm nhiều
lần": Là hành vi vi phạm hành chính về hải quan xảy ra nhiều lần
đối với một chủ thể trong lĩnh vực hải quan trong vòng một năm, kể
từ thời điểm vi phạm hành chính về hải quan được phát hiện trước
đó.
i/ "Đưa hàng hoá
trái phép vào Việt Nam": Là hành vi đưa hàng hoá vào Việt Nam
trái với các quy định của luật pháp Việt Nam.
13- Khi tiếp nhận bộ
hồ sơ hải quan để làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá vật
phẩm, cán bộ tiếp nhận hồ sơ phải kiểm tra, nếu hồ sơ chưa đầy
đủ theo quy định thì hướng dẫn người khai bổ sung các chứng từ còn
thiếu, không lập biên bản vi phạm.
II-áp dụng các hình
thức xử phạt và mức xử phạt.
1- Hình thức xử phạt:
Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về hải quan phải chịu
một trong các hình thức phạt chính là: Cảnh cáo hoặc phạt tiền.
a/ Cảnh cáo: áp dụng
đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu có tình
tiết giảm nhẹ, được quy định tại khoản 1 thuộc các Điều 6, 8, 9a,
9b, 11 và Điều 10 Nghị định.
b/ Ngoài hình thức phạt
chính, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm của cá nhân, tổ chức, có
thể còn bị áp dụng các hình thức phạt bổ sung sau:
- Tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm;
- Tước quyền sử dụng
giấy phép.
Các hình thức phạt bổ
sung trên không được áp dụng độc lập mà phải áp dụng kèm theo hình
thức phạt chính.
2- Cá nhân, tổ chức
bị áp dụng hình thức phạt chính, phạt bổ sung trên còn có thể buộc
phải thực hiện các biện pháp hành chính khác quy định tại Nghị định
như:
- Buộc tái xuất hàng
hoá, vật phẩm;
- Đình chỉ làm thủ
tục hải quan;
- Buộc tiêu huỷ hàng
hoá, vật phẩm.
Biện
pháp hành chính khác được áp dụng kèm theo hình thức phạt chính,
không áp dụng độc lập.
3- Chỉ áp dụng hình
thức phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép đối với giấy phép
trực tiếp liên quan đến hàng hoá, vật phẩm, phương tiện vận tải là
tang vật vi phạm.
Các cấp Hải quan có
thẩm quyền xử phạt chỉ được tước quyền sử dụng giấy phép đối với
giấy phép do cơ quan Hải quan cấp. Trường hợp các giấy phép do cơ
quan khác cấp, cơ quan Hải quan thông báo bằng văn bản cho cơ quan có
thẩm quyền cấp phép, đề nghị tước quyền sử dụng giấy phép; sau
khi thực hiện đề nghị của Hải quan, cơ quan có thẩm quyền cấp
phép thông báo kết quả cho cơ quan Hải quan.
Khi phát hiện giấy phép
giả mạo, giấy phép cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái
pháp luật, phải lập biên bản thu giữ, sau đó thông báo bằng văn bản
cho cơ quan Nhà nước, tổ chức liên quan biết.
4- Thời hạn quy định
làm thủ tục hải quan nói tại khoản 1 và thời gian đi đến của phương
tiện vận tải nói tại điểm a, khoản 2 Điều 6 là thời hạn quy định
tại khoản 1 Điều 3 Bản quy định cụ thể về thủ tục hải quan và lệ
phí hải quan ban hành kèm theo Nghị định 171/HĐBT ngày 27 tháng 5 năm
1991;
5- Đối với quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định, chỉ xử phạt nếu trong giấy phép,
tờ khai hải quan, quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc các giấy
tờ khác theo quy định của pháp luật, có quy định thời gian phải tái
nhập hoặc tái xuất.
6- Đối với quy định
tại khoản 1, Điều 7, chỉ xử phạt khi xác định đối tượng được
giao bảo quản niêm phong hải quan có thực hiện hành vi vi phạm hành chính.
7- Đối với hành vi
vi phạm quy định tại khoản 3, Điều 7 mà tự ý tiêu thụ hàng hoá, vật
phẩm, trong trường hợp số hàng hoá vật phẩm đó là tang vật vi phạm
hành chính khác bị áp dụng phạt bổ sung tịch thu sung công quỹ, thì
ngoài việc xử phạt theo khoản 3, Điều 7, phải thu hồi lại tiền bán hàng
theo giá bán thực tế. Trường hợp cần thiết để đảm bảo thực hiện
quyết định xử phạt thì thu hồi
số tiền bằng số tiền bị xử phạt.
8- Chủ thể "vi phạm
quy định về trao đổi hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của cư dân biên
giới", bao gồm cư dân khu vực biên giới và ngoài khu vực biên giới.
Trị giá và mặt hàng cư dân biên giới được phép trao đổi phải
theo quy định của pháp luật hiện hành; Nếu Điều ước quốc tế về
trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới có quy định khác thì thực
hiện theo Điều ước quốc tế.
Các hình thức xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hoá, vật phẩm dưới hình thức khác tại Cửa khẩu
biên giới đường bộ, phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp
luật về Hải quan và pháp luật liên quan.
9- Hành vi xuất khẩu,
nhập khẩu quà biếu trái quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu
quy định tại khoản 2 Điều 9a là hành
vi xuất khẩu, nhập khẩu bằng hình thức quà biếu hàng hoá, vật phẩm
thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch, giấy phép, kế hoạch định hướng,
hàng hoá tạm ngưng xuất khẩu, nhập khẩu hoặc hàng hoá, vật phẩm cấm
xuất khẩu, nhập khẩu.
Trong trường hợp quà
biếu xuất khẩu, nhập khẩu vượt tiêu chuẩn Nhà nước quy định, có
khai báo hải quan, là hàng hoá khuyến khích xuất khẩu, nhập khẩu, không
quản lý bằng hạn ngạch, kế hoạch định hướng hoặc xuất khẩu, nhập
khẩu có điều kiện khác thì không xử phạt; nhưng người xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hoá đó phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính
theo quy định của pháp luật.
Trường hợp sau khi
đã kiểm tra hải quan mà người nhận quà biếu từ chối nhận, thì
được phép đưa quà biếu đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam (trừ ma tuý,
tài liệu phản động, vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, trang thiết bị
kỹ thuật quân sự).
10- Đối với các trường
hợp xuất khẩu, nhập khẩu hành lý không khai báo hoặc khai báo không
đúng quy định của khai báo hải quan (quy định trong nội dung tờ khai
hải quan) mà không thuộc quy định tại khoản 2 Điều 9b thì xử phạt
theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Trong trường hợp hành
lý xuất khẩu, nhập khẩu vượt tiêu chuẩn Nhà nước quy định, có
khai báo hải quan là hàng hoá khuyến khích xuất khẩu, nhập khẩu thì
xử lý như điểm 9 phần II Thông tư này.
Các trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm không mang tính chất quà biếu, hành lý thì xử lý theo quy định tại Điều
12 Nghị định 88/CP ngày 14/12/1995
của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính các hoạt động
văn hoá, dịch vụ văn hoá và phòng chống một số tệ nạn xã hội.
Trường hợp xuất khẩu,
nhập khẩu quà biếu, hành lý thuộc loại hàng cấm xuất khẩu, cấm nhập
khẩu (trừ ma tuý, tài liệu phản động, vũ khí, đạn dược, vật liệu
nổ, trang thiết bị kỹ thuật quân sự) có khai báo hải quan thì không
được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu và không xử phạt.
13- Phương tiện vận
tải chở hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, chuyển khẩu quy
định tại Nghị định bao gồm phương tiện vận tải trên không, trên
biển, trên sông, trên bộ di chuyển trong khu vực kiểm soát hải quan;
13.1/ Hành vi vi phạm
quy định tại khoản 2 Điều 11 bao gồm cả phương tiện vận tải chở hàng
hoá xuất khẩu xuất phát từ một cảng của Việt Nam hoặc chở hàng chuyển
khẩu, cập cảng không có trong hành trình của tàu, nhưng không khai báo
hải quan theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Bản quy định về thủ tục
hải quan và lệ phí hải quan ban hành kèm theo Nghị định 171/HĐBT.
13.2/ Hàng hoá, vật
phẩm không khai báo hải quan trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập
cảnh trong khu vực kiểm soát hải quan, không phải thuộc sở hữu của
thuyền viên thì xử lý theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều 11 Nghị
định. Trường hợp xác định được đối tượng thực hiện hành vi vi
phạm là người điều khiển, người phục vụ trên phương tiện vận tải...
hoặc hành khách xuất nhập cảnh thì xử phạt theo quy định tại Điều
9b Nghị định.
13.3/ Khi phát hiện
được hàng hoá, vật phẩm có nguồn gốc nhập khẩu trái phép, hàng hoá
quá cảnh, tạm nhập, tái xuất tiêu thụ trên thị
trường Việt
Nam
thì căn cứ vào điểm b, khoản 4 Điều 11 và khoản 2 Điều 17 của Nghị
định để xử phạt.
14- Đối với các vi
phạm quy định tại Điều 12a Nghị định:
14.1/ Vi phạm quy định
tại điểm a khoản 2, điểm b, c khoản 3 Điều 12a dẫn đến thất thu thuế
thì xử lý như sau:
- Nếu có đủ căn cứ
pháp lý khẳng định hành vi trốn thuế được quy định tại Điều 169
Bộ luật Hình sự mà số thuế ẩn lậu dưới 50.000.000 đồng Việt Nam,
nhưng đã bị xử lý hành chính về hành vi trốn thuế, hoặc đã bị kết
án nhưng chưa được xoá án về tội trốn thuế; hoặc số thuế ẩn lậu
có số lượng lớn từ 50.000.000 đồng Việt Nam trở lên thì Cục trưởng
Cục Hải quan Tỉnh, Thành phố không xử phạt vi phạm hành chính, chuyển
hồ sơ sang cơ quan Điều tra xử lý theo thẩm quyền. Trường hợp không
đủ các yếu tố cấu thành tội trốn thuế thì tuỳ theo tính chất, mức
độ vi phạm mà xử phạt theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
- Khi không có đủ căn
cứ xác định được hành vi vi phạm dẫn đến thất thu tiền thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu thì tùy theo tính chất hành vi, mức độ vi phạm
mà xử phạt theo khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 12a Nghị định.
14.2/ Đối với hành
vi không chịu nhận thông báo thu thuế, quyết định xử phạt vi phạm hành
chính theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; nộp chậm tiền thuế,
tiền phạt hoặc dây dưa nộp thuế, nộp phạt thì lập biên bản vi phạm
để xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 22/CP về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
14.3/ Trong trường hợp
nhập khẩu hàng hoá để góp vốn vào liên doanh đầu tư mà khai báo
trị giá hàng hoá cao hơn thực tế, nếu xác định việc giả mạo giấy
tờ để tăng góp vốn đầu tư thì ngoài việc phạt về hành vi khai sai
trị giá, còn xử phạt về hành vi giả mạo giấy tờ; nếu có dấu hiệu
phạm tội thì chuyển cho cơ quan Điều tra.
14.4/ Trường hợp khai
báo tên hàng hoá, vật phẩm bằng tiếng Việt Nam chưa chính xác so với tên hàng hoá bằng tiếng Anh trên chứng từ
trong hồ sơ hải quan và tài liệu kỹ thuật liên quan (nếu có) do dịch
thuật, thì yêu cầu dịch lại
chính xác, không xử phạt.
15- Đối với hành vi
vi phạm liên quan đến giấy phép và văn bản thay thế giấy phép:
15.1/ Giấy phép quá hạn:
a/ Hàng xuất khẩu: Chủ
hàng phải xin gia hạn giấy phép mới cho làm thủ tục xuất khẩu, đồng
thời xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 01/CP về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại;
b/ Hàng nhập khẩu: Nếu
khi ký hợp đồng, hoặc khi xếp hàng lên phương tiện vận tải hiệu lực
giấy phép vẫn còn, nhưng khi hàng về tới cảng giấy phép hoặc hợp
đồng hết hạn thì xử phạt về hành vi sử dụng giấy phép quá hạn
để nhập khẩu hàng hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định
01/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, không
coi đây là trường hợp nhập khẩu
trái phép.
15.2/ Trường hợp hàng
hoá nhập khẩu không đúng nội dung giấy phép, nhưng tang vật vi phạm
là hàng hoá khuyến khích nhập khẩu, không phải là đối tượng chịu
thuế, hoặc là vật tư máy móc góp vốn liên doanh đầu tư thuộc công
nghệ tiên tiến phù hợp với yêu cầu sử dụng, được xác nhận của cơ
quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền, có khai báo hải quan thì không
xử phạt, nhưng phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của pháp luật.
15.3/ Đối với các trường
hợp xuất khẩu, nhập khẩu không đúng nội dung giấy phép hoặc không có
giấy phép nhưng không phải là giấy phép trực tiếp xuất khẩu, nhập
khẩu như giấy phép kinh doanh ngành hàng, giấy phép kinh doanh xuất nhập
khẩu, giấy phép nhập dây chuyền sản xuất để góp vốn đầu tư theo
Luật Đầu tư, giấy phép kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh theo phương
thức tạm nhập, tái xuất, kinh doanh cửa hàng miễn thuế... thì xử phạt
theo quy định tại các Điều 15, 16, 17, 19 Nghị định 01/CP.
15.4/ Trường hợp nhập
khẩu không đúng với khai báo hải quan mà người nhận hàng từ chối
nhận, trả lại người bán với lý do xác đáng, phù hợp với Luật Thương
mại và quy định khác của pháp luật Việt Nam, tập quán thương mại
quốc tế, không có dấu hiệu hợp pháp hoá cho các lô hàng buôn lậu,
thì xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 12a Nghị định, buộc đưa
hàng hoá ra khỏi Việt Nam.
Trường hợp nhập khẩu
hàng hoá, vật phẩm đúng với khai báo hải quan (không phải là hàng
hoá, vật phẩm cấm xuất khẩu, nhập khẩu) mà người nhận hàng từ chối
nhận, trả lại người bán thì được phép đưa hàng hoá, vật phẩm
đó ra khỏi Việt Nam và không bị xử phạt, nhưng phải kiểm tra thực tế
chặt chẽ mới cho thực hiện.
15.5/ Trường hợp xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hoá, vật phẩm không đúng với khai báo hải quan
nhưng không ảnh hưởng đến tiền thuế và các nghĩa vụ tài chính phải
nộp, chính sách mặt hàng, vệ sinh môi trường hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật
chung thì không xử phạt, nếu pháp luật không quy định khác.
16- Trường hợp khai báo
đúng hàng hoá, vật phẩm thực xuất khẩu, nhập khẩu, nhưng áp mã sai
lần đầu, hải quan sẽ hướng dẫn áp mã lại cho chính xác và không xử
phạt. Nếu đã được hướng dẫn một lần mà tiếp tục áp mã sai thì
áp dụng điểm b, khoản 3, Điều 12a để xử phạt.
17- Đối với quy định
tại điểm d, khoản 8 Điều 12a, Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh, Thành
phố phải báo cáo đầy đủ, kịp thời để Tổng cục Trưởng Tổng cục
Hải quan quyết định việc giải phóng hàng hoá hoặc uỷ quyền cho Cục
trưởng Hải quan chịu trách nhiệm
giải phóng hàng hoá.
18- Quy định tại điểm
e, điểm g, khoản 5 Điều 12a Nghị định không áp dụng đối với trường
hợp hàng hoá, vật phẩm đưa vào Việt Nam trên cơ sở hợp đồng thương
mại, phù hợp với giấy phép kinh doanh của người nhập khẩu mà trong
thời hạn quy định tại khoản 1, Điều 3 Bản quy định cụ thể về thủ
tục hải quan và lệ phí hải quan ban hành kèm theo Nghị định 171/HĐBT,
người nhập khẩu đã xuất trình được giấy phép.
19- Những viên chức
ngoại giao, viên chức lãnh sự lợi dụng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại
giao để thực hiện hoạt động thương mại ngoài phạm vi chức năng chính
thức của họ, vi phạm hành chính về hải quan thì trước khi xử phạt,
cần trao đổi với cơ quan Ngoại giao.
Những trường hợp không
được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, nhưng lợi dụng quyền
ưu đãi miễn trừ ngoại giao để trốn tránh sự kiểm tra hải quan nhằm
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá trái phép, trốn lậu thuế hoặc giả mạo
các giấy tờ để được nhập khẩu hàng hoá theo tiêu chuẩn ưu đãi
miễn trừ hải quan, mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự,
đều bị xử phạt theo quy định tại điểm a, khoản 5 Điều 12a Nghị
định.
20- Vi phạm quy định
về xuất khẩu, nhập khẩu ngoại hối:
a/ Các trường hợp
khai khống ngoại hối có số lượng lớn tương đương 5.000.000 đồng
Việt Nam trở lên đều bị xử phạt;
b/ Khi vi phạm khoản 4
Điều 13 Nghị định mà số ngoại hối khai khống tương đương
100.000.000 đồng trở lên, nếu có tình tiết tăng nặng, thì tuỳ theo tính
chất và mức độ vi phạm mà quyết định xử phạt vi phạm hành chính
hay truy cứu trách nhiệm hình sự;
c/ Trường hợp xuất
khẩu, nhập khẩu ngoại hối trái phép nhưng cố tình giấu diếm để trốn
tránh sự kiểm tra hải quan thì ngoài việc phạt tiền theo quy định tại
các khoản 1, 2, 5, 6 Điều 13 Nghị định, còn bị tịch thu tang vật vi
phạm sung công quỹ, trừ số ngoại hối theo quy định của pháp luật
được miễn khai báo hải quan.
21- Vi phạm quy định
về xuất khẩu, nhập khẩu tiền Việt Nam:
a/ Vi phạm khoản 1 Điều
14 Nghị định không có tình tiết tăng nặng, tang vật vi phạm dưới
10.000.000 đồng thì áp dụng hình thức phạt cảnh cáo;
b/ Vi phạm khoản 1, 2,
3 Điều 14 khi xuất khẩu, ngoài việc phạt tiền còn bị đình chỉ xuất
khẩu;
c/ Vi phạm khoản 1, 2,
3 Điều 14, nếu cố tình giấu diếm để trốn tránh sự kiểm tra hải
quan thì ngoài việc bị phạt tiền còn bị tịch thu tang vật, phương tiện
vi phạm sung công quỹ.
III- Thẩm quyền xử phạt.
1- Thủ trưởng trực
tiếp của nhân viên hải quan, bao gồm Đội trưởng Đội công tác nghiệp vụ thuộc cửa khẩu và Phòng nghiệp vụ, do
Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh và Thành phố trực thuộc Trung ương
(sau đây gọi chung là Hải quan Tỉnh) bổ nhiệm; các Phòng nghiệp vụ
không tổ chức Đội, được thực hiện thẩm quyền xử phạt theo quy định
tại khoản 1 Điều 16 của Nghị định. Cấp trên trực tiếp của Đội trưởng
các Đội công tác nghiệp vụ có trách nhiệm kiểm tra và yêu cầu những
người thuộc quyền chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi ra
quyết định xử phạt. Những trường hợp chủ thể vi phạm là người nước
ngoài hoặc vụ việc có tình tiết phức tạp thì chuyển lên cấp lên trực
tiếp để ra quyết định xử phạt.
2- Trưởng Hải quan cửa
khẩu, Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Hải quan Tỉnh; Đội trưởng
Đội Kiểm soát thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu thực hiện thẩm quyền
xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Nghị định.
Quyết định xử phạt
2.000.000 đồng và quyết định tịch thu tang vật, phương tiện có giá
trị 5.000.000 đồng trở lên, những người có thẩm quyền trên đây phải gửi lên Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh, Cục trưởng Cục
Điều tra chống buôn lậu (nếu là quyết định của Đội Kiểm soát thuộc
Cục Điều tra chống buôn lậu) để gửi sang Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh,
Thành phố trực thuộc Trung ương nơi có trụ sở Hải quan Tỉnh.
Đối với những hành
vi vi phạm có mức phạt tiền trên 2.000.000 đồng hoặc tịch thu tang vật
có trị giá trên 20.000.000 đồng, Trưởng Hải quan cửa khẩu, Đội trưởng
Đội Kiểm soát Hải quan thuộc Cục Hải quan Tỉnh phải làm báo cáo,
chuyển hồ sơ, tang vật lên Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh ra quyết
định xử phạt.
Những trường hợp vượt
thẩm quyền xử phạt của Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Điều
tra chống buôn lậu, thì vi phạm được phát hiện, lập biên bản tại
địa bàn quản lý của Hải quan khu vực nào, sẽ chuyển giao Cục trưởng
Cục Hải quan nơi đó ra quyết định xử phạt.
Trưởng Hải quan cửa
khẩu, Đội trưởng Đội Kiểm soát hải quan thuộc Cục Hải quan Tỉnh hoặc
thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu, được xử phạt theo quy định của
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với mức phạt tối đa là
20.000.000 đồng.
3- Cục trưởng Hải
quan Tỉnh thực hiện quyền xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 16
của Nghị định.
a/ Đối với những vụ
vi phạm có tình tiết phức tạp, hoặc áp dụng hình thức phạt bổ sung
mà tang vật tịch thu trị giá trên 200.000.000 đồng thì Cục trưởng Cục
Hải quan Tỉnh phải gửi hồ sơ và báo cáo xin ý kiến Tổng cục Trưởng
Tổng cục Hải quan; chỉ khi được sự đồng ý của Tổng cục Trưởng Tổng
cục Hải quan mới được ra quyết định xử phạt;
b/ Đối với những vụ
vi phạm áp dụng hình thức phạt tiền có mức phạt trên 20.000.000 đồng
thì làm thủ tục chuyển hồ sơ sang Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Thành phố
trực thuộc Trung ương ( sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân Tỉnh) nơi
bắt giữ để Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh ra quyết định xử phạt.
Sau khi có quyết định xử phạt, Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh phải báo
cáo lên Tổng cục Trưởng Tổng cục Hải quan;
c/ Đối với những vi
phạm pháp luật Hải quan do Đội Kiểm soát cơ động trên biển phát hiện,
lập biên bản vi phạm, bắt giữ ở vùng lãnh hải, thềm lục địa, vùng
đặc quyền kinh tế hoặc những địa bàn chưa có tổ chức Hải quan mà
vượt thẩm quyền của Đội kiểm soát, thì đưa về trụ sở Hải quan nơi
gần nhất để thực hiện xử phạt theo quy định chung;
d/ Hồ sơ vụ vi phạm
hành chính về hải quan khi chuyển sang Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh phải kèm theo bản
tóm tắt nội dung sự việc và ý kiến của Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh về biện pháp xử lý. Thủ tục
bàn giao hồ sơ những vụ vi phạm hành chính về hải quan có mức phạt
trên 20.000.000 đồng sang Uỷ ban nhân dân Tỉnh phải thực hiện theo
đúng quy định chung. Thời gian xem xét giải quyết ở mỗi cấp được
quy định như sau:
Trong thời hạn 10 ngày,
kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, Cục trưởng Cục hải
quan Tỉnh phải gửi hồ sơ, kiến nghị biện pháp xử phạt vi phạm hành
chính sang Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh xem xét; trong thời hạn từ 5
đến 7 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, kiến nghị biện pháp xử
phạt của Cục trưởng Hải quan, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh ra quyết
định xử phạt. Tang vật vi phạm vẫn giữ tại kho của Hải quan để bảo
quản. Riêng tang vật là ngoại tệ, đồng Việt Nam, kim khí quý, đá quý
phải niêm phong và gửi kho bạc Nhà nước;
e/ Các vụ vi phạm hành
chính do cơ quan Hải quan chuyển sang Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh giải
quyết theo thẩm quyền, thì sau khi có quyết định xử phạt của Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Cục trưởng Hải quan nơi thụ lý vụ vi phạm hành
chính chịu trách nhiệm thi hành quyết định xử phạt. Hàng tháng, Cục trưởng Hải quan phải báo cáo kết quả
việc thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân Tỉnh với Tổng cục Trưởng Tổng cục Hải quan;
g/ Trong trường hợp Cục
Hải quan phụ trách nhiều Tỉnh, các vụ vi phạm hành chính về hải quan
bắt giữ tại địa bàn tỉnh nào thì chuyển sang Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân tỉnh nơi đã bắt giữ ra quyết định xử phạt, nếu vượt thẩm quyền
xử phạt của Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh;
h/ Thẩm
quyền xử phạt theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Cục
trưởng Cục Hải quan Tỉnh thực
hiện theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn
bản hướng dẫn thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Đối với
số thuế ẩn lậu ở dưới mức truy cứu trách nhiệm được quy định tại
Thông tư số 06/TTLB ngày 20/9/1996 của Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ hướng dẫn xử lý tội trốn
thuế thì Cục trưởng Hải quan Tỉnh được phạt tiền đến 5 lần số
thuế ẩn lậu, nhưng tối đa khi phạt 1 lần thuế ẩn lậu phải dưới 50
triệu đồng; khi phạt 5 lần thuế ẩn lậu phải dưới 250 triệu đồng.
Đối
với những trường hợp có mức phạt vượt quy định nêu trên thì Cục
trưởng Cục Hải quan Tỉnh chỉ ra quyết định xử phạt theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu khi có
ý kiến bằng văn bản của cơ quan Điều tra không truy cứu trách nhiệm
hình sự. Sau khi ra quyết định xử phạt phải báo cáo Tổng cục trưởng
Tổng cục Hải quan.
IV- Thực hiện các biện
pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính
1- Khi áp dụng biện
pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính phải tuân thủ
các nguyên tắc sau đây:
a/ Chỉ những người có
thẩm quyền quy định tại Điều 19 Nghị định mới được tạm giữ người
theo thủ tục hành chính;
b/ Khi tạm giữ người
phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ một bản;
c/ Chỉ tạm giữ người
theo thủ tục hành chính trong
trường hợp cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng để làm
căn cứ ra quyết định xử phạt hành chính hoặc để ngăn chặn, đình
chỉ ngay những vi phạm hành chính.
2- Tạm giữ tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính.
a/ Khi phát hiện hành
vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan,
phải tiến hành lập biên bản vi phạm và xem xét hành vi đó có phải
áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật hay không; chỉ tạm giữ tang vật
khi xác định hành vi vi phạm đó có thể phải áp dụng hình thức phạt
bổ sung là tịch thu tang vật sung công quỹ hoặc số tang vật có trị giá
tương đương với mức phạt theo hành vi vi phạm để đảm bảo thực hiện
quyết định xử phạt. Trường hợp chưa xác định được có vi phạm xảy
ra hay không, thì chỉ lưu mẫu
tang vật. Đối với tang vật là ngoại hối của hành khách xuất nhập cảnh,
chỉ tạm giữ số ngoại hối vượt tiêu chuẩn theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam. Đối với tang vật là nguyên liệu sản xuất hàng
gia công, nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu, hàng góp vốn đầu tư
liên doanh, hàng nhập khẩu theo vốn ODA được miễn thuế, hàng gửi kho
ngoại quan, mà có trong giấy phép, hợp đồng thì chỉ lưu mẫu, cho giải
phóng hàng và yêu cầu các đối tượng này có văn bản cam kết thực
hiện quyết định xử phạt sau này.
Khi áp dụng biện pháp
ngăn chặn tạm giữ tang vật phải tuân thủ đúng quy định về thời hạn
tạm giữ và xử lý tang vật, phương
tiện vi phạm theo quy định tại khoản 5, Điều 41 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính.
Tổ chức, cá nhân nếu
không thực hiện đúng quy định về thời hạn tạm giữ tang vật, phương
tiện vi phạm gây thiệt hại vật chất cho chủ hàng thì Cục trưởng Hải
quan các địa phương hoặc Thủ trưởng đơn vị là cấp trên của người ra quyết định tạm giữ hoặc người được uỷ quyền
thuộc cơ quan Tổng cục Hải quan phải chịu trách nhiệm giải quyết
bồi thường thiệt hại vật chất cho chủ hàng theo Điều 7, 8, 9, 10, 11 Nghị định 47/CP ngày 3/5/1997 quy định về bồi thường
thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Sau đó, xác định mức bồi thường
thiệt hại của cá nhân, người có thẩm quyền tạm giữ gây ra, theo Điều
12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 Nghị định 47/CP;
b/ Những người có thẩm
quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì có quyền tạm giữ
tang vật, phương tiện vi phạm theo thủ tục hành chính;
c/ Đội trưởng Đội
công tác nghiệp vụ chỉ được tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính trong trường hợp phạm pháp quả tang, mà nếu không áp dụng
biện pháp tạm giữ thì tang vật, phương tiện vi phạm hành chính sẽ bị
tẩu tán, đánh tráo để xoá dấu vết. Nhưng trong thời hạn không quá
24 giờ kể từ khi tạm giữ, người ra quyết định phải báo cáo Thủ trưởng
trực tiếp theo quy định tại Điều 19 Nghị định và phải được sự
đồng ý bằng văn bản;
d/ Để đảm bảo việc
ngăn chặn hành chính kịp thời, có hiệu quả, Cục trưởng Cục Hải
quan Tỉnh được uỷ quyền cho Trưởng phòng Điều tra chống buôn lậu tạm
giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Người uỷ quyền và người
được uỷ quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
3- Khám người theo thủ
tục hành chính.
a/ Thẩm quyền và trình
tự khám người theo thủ tục hành chính phải tuân thủ các điều kiện
quy định tại Điều 21 Nghị định.
b/ Nhân viên Hải quan
đang thi hành công vụ được phép khám người theo thủ tục hành chính.
Trước khi khám, bắt buộc phải cho người bị khám xem Chứng minh thư Hải
quan; phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình
và phải báo cáo ngay cho Thủ trưởng đơn vị phụ trách trực tiếp.
4- Khám phương tiện
vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính.
a/ Nhân viên Hải quan
đang thi hành công vụ có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính, trừ trường hợp phương
tiện vận tải là tàu biển, máy
bay, tàu hoả của Việt nam và nước ngoài vận chuyển trên các tuyến
đường quốc tế thì phải có quyết định của Trưởng Hải quan cửa khẩu
hoặc cấp tương đương trở lên;
b/ Việc khám phương
tiện vận tải, đồ vật của các đối tượng được hưởng ưu đãi miễn
trừ ngoại giao, miễn trừ lãnh sự phải tuân thủ các quy định của Điều
ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia và phải có quyết
định của Tổng cục Trưởng Tổng cục Hải quan.
Khi có cơ sở khẳng
định hành lý của người được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại
giao, miễn trừ lãnh sự xuất cảnh, nhập cảnh chứa đựng những đồ vật
không được hưởng ưu đãi, hoặc chứa những đồ vật thuộc loại Nhà
nước Việt Nam cấm xuất khẩu, nhập
khẩu hoặc không tuân thủ các chế độ kiểm dịch của Việt Nam, thì việc
khám xét thực hiện theo quyết định của Tổng cục Trưởng Tổng cục Hải
quan, trước mặt viên chức ngoại giao hoặc người được uỷ quyền đại
diện cho họ.
5- Khám nơi cất giấu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Khi xét thấy cần khám
nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong khu vực
kiểm soát hải quan thì cơ quan Hải quan phải phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc
khám xét theo quy định tại Điều 44 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
V- Thủ tục xử phạt
vi phạm hành chính và thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
1- Khi xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan bằng hình thức
cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 20.000 đồng thì không phải lập biên bản
vi phạm mà ra quyết định xử phạt tại chỗ.
2- Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính có thể ghi ngày có hiệu lực (như trường hợp xử
phạt đối với người nước ngoài vắng mặt; những trường hợp vì điều
kiện thời gian, không gian hoặc những lý do khác không thể thực hiện
được đầy đủ quyết định trong thời gian 5 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định xử phạt).
3- Đối với những trường
hợp áp dụng hình thức phạt tiền hoặc phạt tiền kèm tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm mà quá thời hạn chấp hành Quyết định xử phạt,
đương sự cố tình không thực hiện nộp phạt thì phải tổ chức việc
cưỡng chế.
Căn cứ vào điểm c,
khoản 3 Điều 30 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì Cục trưởng
Cục Hải quan cấp Tỉnh được áp dụng hình thức cưỡng chế thi hành quyết
định xử phạt bằng biện pháp đình chỉ làm thủ tục hải quan đối với
hàng hoá, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu và chỉ thực hiện biện pháp
này sau khi đã phối hợp với các cơ quan quy định tại Điều 30 Nghị
định mà không thực hiện được các biện pháp cưỡng chế khác, khi
đương sự cố tình không thực hiện quyết định xử phạt.
VI- Giải quyết khiếu
nại.
1- Khiếu nại việc áp
dụng biện pháp ngăn chặn hành
chính.
a/ Cá nhân, tổ chức
bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính như tạm giữ người;
tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; khám người; khám
phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính quy định tại
các Điều 18, 19, 20, 21, 22 Nghị định thì cá nhân, tổ chức hoặc người
đại diện hợp pháp của họ được quyền khiếu nại lên cấp trên trực
tiếp của người đã ra quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn;
b/ Việc giải quyết
khiếu nại phải thực hiện trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại, bằng Quyết định giữ nguyên các biện pháp ngăn chặn,
thay đổi hoặc huỷ bỏ một phần hay toàn bộ biện pháp ngăn chặn.
2- Khiếu nại quyết
định xử phạt vi phạm hành chính về hải quan.
- Người có thẩm quyền
ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hải quan có trách nhiệm
giải quyết khiếu nại lần thứ nhất.
Đối với quyết định
của Đội trưởng Đội công tác nghiệp vụ thì Trưởng phòng nghiệp vụ,
Trưởng Hải quan cửa khẩu giải quyết khiếu nại lần thứ hai.
Đối với các quyết
định xử phạt của Trưởng Hải quan cửa khẩu, Đội trưởng Đội Kiểm
soát hải quan, Trưởng phòng nghiệp vụ (nếu không thành lập Đội) thì
thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 2 là Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh
hoặc Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu.
Đối với các Quyết
định xử phạt của Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh, Thành phố thì thẩm
quyền giải quyết khiếu nại lần thứ hai là Tổng cục Trưởng Tổng cục
Hải quan.
Tổng cục Trưởng Tổng
cục Hải quan giải quyết khiếu nại lần thứ hai đối với các quyết
định xử phạt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh; nếu Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân Tỉnh đồng ý với quyết
định của Tổng cục Trưởng Tổng cục Hải quan thì ra quyết định sửa
đổi quyết định của mình. Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tỉnh
không đồng ý với quyết định của Tổng cục Trưởng Tổng cục Hải
quan thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh khiếu nại lên Tổng Thanh
tra Nhà nước.
Mọi khiếu nại quyết
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về
Hải quan được giải quyết theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và
điều 31, 32 của Nghị định, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết
định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại, thì có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiếp của họ hoặc khởi
kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền. Trong trường hợp vừa
có khiếu nại lên cấp trên trực
tiếp (của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại), vừa có đơn
khởi kiện vụ án hành chính thì thực hiện theo Điều 13 Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án hành chính.
3- Khi giải quyết khiếu
nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại phải căn cứ vào khoản 3, Điều 88 Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính và mẫu ấn chỉ HC20 để ra quyết định giải quyết
khiếu nại.
VII- Tổ chức thực hiện.
1- Vụ Pháp chế Tổng
cục Hải quan có trách nhiệm tổ chức phối hợp với các Vụ, Cục liên
quan thuộc Tổng cục Hải quan, thực hiện phúc tra quyết định xử phạt
vi phạm hành chính về hải quan và kiểm tra việc tuân theo pháp luật
trong quá trình thực hiện xử phạt để đảm bảo việc xử phạt vi phạm
hành chính về hải quan đúng quy định của pháp luật.
2- Cục trưởng Cục Hải
quan Tỉnh tổ chức kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện nguyên tắc, trình
tự xử phạt vi phạm hành chính (được quy định tại Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính và Bản quy
định về trình tự xử phạt vi phạm hành chính trong ngành Hải quan -
ban hành kèm theo Quyết định số 97/TCHQ-PC ngày 5/8/1996 và công văn số
2505/TCHQ-PC ngày 6/8/1996 hướng dẫn thi hành quyết định trên.) của các
đơn vị thuộc quyền.
Tại các đơn vị cửa
khẩu, Đội kiểm soát trực thuộc Cục Hải quan Tỉnh, Phòng nghiệp vụ,
phải cử cán bộ chuyên theo dõi, hướng dẫn kiểm tra việc xử phạt vi
phạm hành chính của các Đội nghiệp vụ; giải quyết kịp thời các khiếu
nại về biện pháp ngăn chặn hành
chính và quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của
Nghị định và hướng dẫn tại Thông tư này.
3- Đối với những vụ
vi phạm hành chính hoặc khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành
chính có nhiều tình tiết phức tạp, Hội đồng tư vấn xử lý các cấp
có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét để kiến nghị Tổng cục Trưởng Tổng
cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan Tỉnh ra quyết định được kịp
thời, đúng đắn.
4- Những cán bộ theo
dõi, hướng dẫn thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính phải
được lựa chọn từ các cán bộ, nhân viên đã được rèn luyện tốt,
trung thực, am hiểu pháp luật và nghiệp vụ.
5- Việc thu nộp tiền
phạt vi phạm hành chính thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Cục trưởng Cục Kiểm tra thu thuế XNK Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm
kiểm tra, hướng dẫn cụ thể chế độ thu nộp theo quy định hiện hành.
6- Những cán bộ, nhân
viên Hải quan có thẩm quyền xử phạt hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn
hành chính hoặc được giao nhiệm vụ làm công tác xử phạt vi phạm hành
chính về hải quan, nếu có hành vi vi phạm nguyên tắc, trình tự xử phạt
vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, hoặc thiếu tinh thần
trách nhiệm hay sách nhiễu, vụ lợi thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị
xử lý nghiêm khắc theo pháp luật; nếu gây thiệt hại về vật chất cho
cá nhân, tổ chức thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Thông
tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể
từ ngày ký, thay thế Thông tư số 242/1997/TT-TCHQ
ngày
14/10/1997 và Thông tư số
01/1998/TT-TCHQ ngày
6/5/1998 và các văn bản của Tổng cục Hải quan ban hành trước đây trái với Thông tư này./.
|
Nơi
nhận: -
Văn phòng Chính phủ (để báo cáo); -
VKSNDTC, TANDTC; -
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ; -
UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW; -
Cơ quan Trung ương của các Đoàn thể; -
Cục Hải quan các Tỉnh, Thành phố (để thực hiện); -
Các Cục, Vụ, các đơn vị thuộc TCHQ (để thực hiện); -
Lưu VT, PC. |
Tổng
cục trưởng Tổng cục Hải quan Đã
ký Phan
văn dĩnh |