BỘ TÀI CHÍNH                          CỘNG HOÀ XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

             ------                                            Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:   62 /2007/TT-BTC                                       ---------------------

                                                                 Hà Nội, ngày 14  tháng 6  năm 2007

 

THÔNG TƯ

Hướng dẫn thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP

ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định việc xử lư

vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính

 trong lĩnh vực hải quan

 

 

Căn cứ Luật Hải quan ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Căn cứ Luật quản lư thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006;

          Căn cứ Pháp lệnh Xử lư vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02 tháng 7 năm 2002 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam; Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lư vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002;

Căn cứ Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

Căn cứ Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định việc xử lư vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan;

Căn cứ Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định về xử lư vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;

Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xử lư vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan như sau:

 

Phần I

XỬ LƯ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ HẢI QUAN

 

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ư hoặc vô ư vi phạm các quy định quản lư nhà nước về hải quan (bao gồm cả thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu) chưa đến mức truy cứu trách nhiệm h́nh sự và theo quy định của Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định việc xử lư vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan (sau đây gọi tắt là Nghị định số 97/2007/NĐ-CP) phải bị xử phạt vi phạm hành chính về hải quan.

          2. Việc áp dụng các quy định của Nghị định số 97/2007/NĐ-CP để xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan được thực hiện theo quy định tại Điều 80 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và khoản 3 Điều 55 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

          3. Việc xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các h́nh thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả, áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan phải tuân thủ các nguyên tắc, tŕnh tự, thủ tục và thẩm  quyền quy định tại Luật Quản lư thuế, Pháp lệnh Xử lư vi phạm hành chính, Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lư vi phạm hành chính và Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

          4. Người khai hải quan, người nộp thuế có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan và Điều 6, Điều 7 Luật Quản lư thuế và có quyền đề nghị cơ quan hải quan cung cấp thông tin, hướng dẫn, hỗ trợ việc kê khai, làm thủ tục hải quan và thủ tục về thuế theo đúng quy định pháp luật.

          Cơ quan hải quan có nghĩa vụ giải thích, hướng dẫn, hỗ trợ người khai hải quan, người nộp thuế thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Trường hợp người khai hải quan, người nộp thuế không thực hiện các quyền của ḿnh dẫn đến có hành vi vi phạm th́ bị xử phạt theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.

          5. Áp dụng các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính   

          a) Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm các quy định quản lư nhà nước về hải quan th́ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 97/2007/NĐ-CP hoặc các Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực hải quan. Cá nhân, tổ chức đă thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà từ chối nhận hàng th́ vẫn phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm do ḿnh thực hiện.

          b) Trường hợp hành vi vi phạm trong lĩnh vực hải quan là hệ quả của một hành vi vi phạm khác trong cùng lĩnh vực hải quan th́ chỉ xử phạt đối với hành vi vi phạm có chế tài xử phạt nặng hơn.

c) Một hành vi vi phạm do cùng một cá nhân, tổ chức thực hiện ở cùng một thời điểm trên nhiều tờ khai, hợp đồng th́ chỉ xử phạt một lần; đồng thời áp dụng t́nh tiết tăng nặng “vi phạm nhiều lần trong cùng lĩnh vực”.

d) Trường hợp đă bị xử phạt về một hành vi vi phạm, nhưng chưa hết một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm ở lô hàng khác th́ áp dụng t́nh tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 khi ra quyết định xử phạt.

          đ) Vi phạm lần đầu trong lĩnh vực hải quan nêu tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP là trường hợp cá nhân, tổ chức trước đó chưa bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan nhưng đă qua một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm.     

          6. Trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về hải quan theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP:

          a) Hàng hoá, phương tiện vận tải đưa vào Việt Nam do bị hoả hoạn, thiên tai, địch hoạ, sự kiện bất ngờ, trong t́nh thế cấp thiết phải khai và đă thực hiện khai với cơ quan hải quan, cơ quan có thẩm quyền khác hoặc chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật.

          Trường hợp không khai sẽ bị xử lư theo quy định của pháp luật hiện hành;

          b) Việc thông báo nhầm lẫn quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP phải được người gửi hàng, người nhận hàng hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện bằng văn bản, nêu rơ lư do gửi cho cơ quan hải quan kèm theo các chứng từ liên quan đến việc nhầm lẫn trước thời điểm cơ quan hải quan kiểm tra thực tế hàng hoá hoặc quyết định miễn kiểm tra thực tế hàng hoá;  được Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi tiếp nhận và xử lư hồ sơ hải quan chấp nhận.

          Trường hợp có căn cứ xác định có sự thông đồng giữa người gửi hàng, người nhận hàng và/hoặc người vận chuyển để vận chuyển trái phép hoặc buôn lậu th́ cơ quan hải quan có quyền từ chối chấp nhận nhầm lẫn.

          c) Quy định tại điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP bao gồm các trường hợp sau:

          - Người khai hải quan, người nộp thuế tự phát hiện những sai sót trong hồ sơ hải quan và khai bổ sung trong thời hạn quy định;

          - Người khai hải quan, người nộp thuế kiểm tra lại việc tính thuế và khai bổ sung trong thời hạn quy định sau khi nhận được yêu cầu của cơ quan hải quan.

          d) Các trường hợp quy định tại khoản 5, 6 và 8 Điều 7 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP:

- Tại thời điểm phát hiện hành vi vi phạm đă đủ cơ sở xác định thuộc trường hợp không xử phạt th́ người có thẩm quyền xử phạt chỉ lập biên bản chứng nhận lưu hồ sơ;

- Nếu chưa đủ cơ sở xác định hành vi vi phạm có thuộc trường hợp không xử phạt hay không th́ người có thẩm quyền xử phạt lập biên bản vi phạm hành chính về hải quan; trên cơ sở hồ sơ hải quan, tài liệu có liên quan, biên bản vi phạm hành chính về hải quan để ra quyết định về việc không xử phạt.

          đ) Trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 7 Nghị định:

Người khai hải quan khai sai mă số, thuế suất lần đầu, cơ quan Hải quan hướng dẫn để khai lại mă số, thuế suất cho chính xác, lập biên bản chứng nhận và không xử phạt.

Việc khai sai mă số, thuế suất được coi là lần đầu khi đáp ứng các điều kiện:

- Trong thời hạn một năm (tính đến ngày đăng kư tờ khai hải quan xuất, nhập khẩu lô hàng khai sai mă số, thuế suất) cá nhân, tổ chức chưa xuất, nhập khẩu mặt hàng đó; hoặc đă xuất, nhập khẩu mặt hàng đó nhưng khai mă số, thuế suất chưa đúng và chưa được phát hiện;

- Cá nhân, tổ chức đă bị xử phạt về hành vi khai sai mă số, thuế suất của mặt hàng đó nhưng đă qua một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm;

- Chưa được cơ quan Hải quan hướng dẫn khai mă số, thuế suất mặt hàng này hoặc đă hướng dẫn nhưng chưa đúng.

7. Cách xác định trị giá tang vật, phương tiện vi phạm

Đối với tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu th́ trị giá xác định theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003, hướng dẫn tại Thông tư số 13/2007/TT-BTC ngày 6 tháng 3 năm 2007 và Thông tư số 34/2005/TT-BTC ngày 12 tháng 5 năm 2005 của Bộ Tài chính;

Đối với tang vật, phương tiện không bị tịch thu th́ trị giá tang vật, phương tiện vi phạm là trị giá tính thuế, được xác định theo các quy định hiện hành về xác định giá tính thuế ở thời điểm lập biên bản vi phạm; nếu là ngoại hối th́ tỷ giá được xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 8/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

8. Đối với hành vi vi phạm không bị áp dụng h́nh thức phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và các biện pháp khắc phục hậu quả th́ hàng hoá, phương tiện vi phạm được tiếp tục làm thủ tục hải quan theo quy định pháp luật nếu cá nhân, tổ chức vi phạm đă nộp đủ tiền phạt hoặc được Tổ chức tín dụng, tổ chức khác hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng bảo lănh đối với số tiền phải nộp để thực hiện quyết định xử phạt; hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế th́ phải nộp đủ các loại thuế và nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

9.  Trường hợp quá thời hiệu xử phạt quy định tại Điều 5 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP th́ không xử phạt nhưng vẫn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm đó (nếu có), trường hợp tang vật vi phạm thuộc đối tượng chịu thuế th́ phải nộp đủ thuế và các nghĩa vụ tài chính theo quy định.

10.  Cách tính thời hạn, thời hiệu

 a) Thời hạn, thời hiệu trong Pháp lệnh Xử lư vi phạm hành chính quy định theo tháng hoặc theo năm th́ khoảng thời gian đó được tính theo tháng, năm dương lịch, bao gồm cả ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động.

b) Thời hạn trong Pháp lệnh Xử lư vi phạm hành chính quy định theo ngày th́ khoảng thời gian đó được tính theo ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động.

 

 

 II. ÁP DỤNG CÁC H̀NH THỨC XỬ PHẠT VÀ MỨC PHẠT

 

          1. Các h́nh thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả

 

a) Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về hải quan phải chịu một trong các h́nh thức xử phạt chính là: cảnh cáo hoặc phạt tiền.

Cảnh cáo: áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm lần đầu, có t́nh tiết giảm nhẹ, được quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 3 Điều 19 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện.

Phạt tiền: thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định 97/2007/NĐ-CP.

b) Ngoài h́nh thức xử phạt chính, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm; cá nhân, tổ chức có thể c̣n bị áp dụng một hoặc các h́nh thức xử phạt bổ sung sau:

- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

c) Ngoài các h́nh thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung nêu trên; cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính c̣n có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định số 97/2007/NĐ-CP, gồm:

- Buộc tiêu huỷ tang vật, phương tiện vi phạm là văn hoá phẩm độc hại, hàng hoá gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng;

          - Buộc đưa ra khỏi lănh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, phương tiện vi phạm tại cửa khẩu nhập;

          - Buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm đă tiêu thụ, tẩu tán, tiêu huỷ trái với quy định của pháp luật.

          Tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu mọi chi phí để thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả.

Các h́nh thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên được áp dụng kèm theo h́nh thức phạt chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Đối với vi phạm quy định tại Điều 8 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP

a) Thời hạn làm thủ tục hải quan tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP là thời hạn quy định tại Điều 18 Luật Hải quan và các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hạn làm thủ tục hải quan đối với từng loại h́nh xuất khẩu, nhập khẩu;

b) Khai bổ sung hồ sơ khai thuế tại điểm c khoản 1 Điều 8 bao gồm các trường hợp:

          - Người khai hải quan, người nộp thuế tự phát hiện những sai sót trong hồ sơ hải quan và bổ sung hồ sơ khi quá 60 ngày, kể từ ngày đăng kư tờ khai hải quan trước thời điểm cơ quan hải quan kiểm tra, phát hiện;

          - Sau khi nhận được yêu cầu của cơ quan hải quan, người khai hải quan, người nộp thuế kiểm tra lại việc tính thuế và khai bổ sung khi quá 60 ngày, kể từ ngày đăng kư tờ khai hải quan trước thời điểm cơ quan hải quan kiểm tra, phát hiện.

c) Chỉ xử phạt hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP nếu trong giấy phép, tờ khai hải quan hoặc các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật có quy định thời gian phải tái nhập hoặc tái xuất.

          d) Thời hạn tại điểm c khoản 2 Điều 8 là thời hạn thanh khoản hợp đồng, tờ khai hoặc hàng hoá, bao gồm cả thời hạn giải quyết nguyên vật liệu dư thừa sau khi kết thúc hợp đồng gia công quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về hải quan.

 

          3. Đối với vi phạm quy định tại Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP

          a) Trường hợp nhập khẩu hàng hoá, vật phẩm không đúng với khai hải quan mà việc làm thủ tục hải quan do doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát nhanh thay mặt chủ hàng thực hiện theo quy định của pháp luật, nếu không có căn cứ xác định có sự thông đồng giữa người gửi hàng, người nhận hàng và người làm thủ tục hải quan nhằm mục đích gian lận th́ không xử phạt.

          b) Đối với hành vi không khai hoặc khai sai nhưng hàng hoá thuộc danh mục hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại đă được Bộ Tài chính hoặc cơ quan do Bộ Tài chính uỷ quyền xác nhận th́ xử phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

          Trường hợp hàng hoá không thuộc danh mục đă được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền th́ xử phạt theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

c) Trường hợp nhập khẩu không đúng với khai hải quan nhưng hàng hoá là nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, linh kiện nhập khẩu thuộc diện miễn thuế như: hàng hoá thuộc hợp đồng gia công đă đăng kư, hàng hoá thuộc danh mục miễn thuế của dự án đầu tư th́ xử phạt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định, trừ lùi vào hợp đồng hoặc danh mục đă đăng kư; trường hợp hàng hoá không thuộc diện miễn thuế th́ xử phạt theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

d) Quy định tại điểm a khoản 3 Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP được áp dụng đối với trường hợp khai và làm thủ tục hải quan nhưng không xuất khẩu hoặc xuất khẩu thiếu so với khai hải quan. Quy định này không áp dụng đối với trường hợp tờ khai hải quan không có giá trị làm thủ tục hải quan theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan.

Trường hợp hàng hoá tạm xuất, tái xuất thiếu so với khai báo hải quan th́ không xử phạt theo quy định tại điểm này mà tuỳ theo từng trường hợp cụ thể để xử phạt theo điểm c khoản 2 hoặc khoản 4 Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

đ) Quy định tại điểm b khoản 3 Điều 9 được áp dụng trong trường hợp việc khai sai các tiêu chí trong hồ sơ thanh khoản hàng hoá của doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế và các doanh nghiệp khác trong khu phi thuế quan làm sai lệch số lượng, trọng lượng, chủng loại, trị giá hàng hoá được thanh khoản.

e) Việc xử phạt theo quy định tại khoản 4 Điều 9 được áp dụng đối với các hành vi vi phạm thuộc các loại h́nh xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá dẫn đến làm thiếu số thuế phải nộp, tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu.

g) Vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP mà nội dung khai sai là hệ quả của các hành vi vi phạm nêu tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP th́ xử phạt theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

h) Đối với hành vi không khai hoặc khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, trọng lượng, chất lượng, trị giá, mă số hàng hoá, thuế suất, xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cần kiểm tra xác minh để làm rơ; nếu không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP th́ tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xử phạt theo quy định tại điểm b hoặc điểm d khoản 4 Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

i) Vi phạm quy định tại điểm c khoản 4 Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP mà số nguyên vật liệu chênh lệch đă tiêu thụ tại thị trường trong nước th́ tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử phạt theo quy định tại điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

k) Đối với hành vi khai nhiều hơn so với thực tế hàng hoá xuất khẩu là sản phẩm gia công, sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu (bao gồm cả nguyên vật liệu gia công tái xuất) về chủng loại, số lượng, trọng lượng dẫn đến số thuế chênh lệch dưới 50 triệu đồng th́ xử phạt theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 9 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

 

 

 

4. Đối với vi phạm quy định tại Điều 10 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP

          a) Các hành vi vi phạm quy định tại Điều 10 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP áp dụng đối với trường hợp người xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu, giấy thông hành mang theo ngoại tệ, tiền Việt Nam bằng tiền mặt hoặc vàng dạng khối, thỏi, hạt, miếng vi phạm các quy định về khai hải quan khi làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh. Các trường hợp mang ngoại tệ, tiền Việt Nam bằng tiền mặt hoặc vàng trái phép khác qua biên giới th́ bị xử phạt theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

b) Trị giá tang vật vi phạm là trị giá sau khi đă trừ đi trị giá ngoại tệ, vàng, tiền Việt Nam không phải khai hải quan theo quy định của pháp luật.      

c) Trường hợp người xuất cảnh, nhập cảnh mang vàng trang sức vi phạm quy định về khai hải quan th́ xử phạt như đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu khác.

 

5. Đối với vi phạm quy định tại Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP

a) Điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP được áp dụng đối với trường hợp không thực hiện những nội dung mà cơ quan hải quan yêu cầu theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để kiểm tra, thanh tra thuế.

b) Quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 11 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP được áp dụng  đối với trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định việc lưu mẫu, lưu hồ sơ, chứng từ.

c) Khi phát hiện hành vi quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP th́ phải lập biên bản thu giữ niêm phong hải quan hoặc giấy tờ thuộc hồ sơ hải quan bị giả mạo. Trường hợp các giấy tờ này là giấy phép th́ thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp phép biết.

d) Quy định tại điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP chỉ áp dụng đối với trường hợp tang vật vi phạm chưa bị tẩu tán, tiêu thụ. Trường hợp tang vật vi phạm không c̣n th́ bị xử phạt theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

 

          6. Đối với vi phạm quy định tại Điều 13 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP

Hành vi vi phạm quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều 13 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP do người dưới 14 tuổi thực hiện th́ lập biên bản chứng nhận, ra quyết định tịch thu hoặc tiêu huỷ tang vật.   

7. Đối với vi phạm quy định tại Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP

          a) Chứng từ, tài liệu nêu tại điểm a khoản 1 Điều 14 bao gồm các chứng từ, tài liệu nộp hoặc xuất tŕnh cho cơ quan hải quan trong quá tŕnh làm thủ tục hải quan và sau khi thông quan làm căn cứ xác định hoặc chứng minh số thuế phải nộp.

b) “Lần nhập khẩu trước” nêu tại điểm b khoản 1 Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP được xác định trong khoảng thời gian một năm (365 ngày) trước thời điểm vi phạm.

c) Đối với hành vi không khai hoặc khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, trọng lượng, chất lượng, trị giá, mă số hàng hoá, thuế suất, xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu: Trường hợp phát hiện sau khi hàng hoá đă thông quan, quá thời hạn 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm mà người vi phạm chưa nộp đủ thuế theo quy định th́ xử phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

d) Quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 áp dụng trong trường hợp  tại thời điểm cơ quan Hải quan kiểm tra, lượng hàng hoá không c̣n hoặc c̣n lại ít hơn so với báo cáo thanh khoản hoặc sổ sách của doanh nghiệp.

đ) Đối với hành vi khai khống hàng hoá xuất khẩu là sản phẩm gia công, sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu:

- Trường hợp làm thủ tục xuất khẩu nhưng không xuất khẩu th́ xử phạt theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP. Quy định này không áp dụng đối với trường hợp tờ khai hải quan không có giá trị làm thủ tục hải quan theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan;

- Trường hợp khai nhiều hơn so với thực tế hàng hoá xuất khẩu về chủng loại, số lượng, trọng lượng dẫn đến số thuế chênh lệch từ 50 triệu đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm h́nh sự th́ xử phạt theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

e) Hành vi nêu tại điểm m khoản 1 Điều 14 Nghị định được áp dụng khi cơ quan hải quan có đủ căn cứ xác định người nộp thuế biết rơ hàng hoá thực xuất khẩu, thực nhập khẩu mà không khai hoặc khai sai để trốn thuế.

g) Cách tính chênh lệch thuế và áp dụng mức phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế:

Số thuế chênh lệch là số thuế phải nộp của mặt hàng thực xuất khẩu, nhập khẩu, trừ đi số thuế mà chủ hàng đă khai báo trên tờ khai hải quan.

          Khi xem xét để quyết định xử phạt hành vi trốn thuế, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 161 Bộ luật H́nh sự th́ người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng h́nh sự có thẩm quyền.

                            

          8.  Đối với vi phạm liên quan đến giấy phép, điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu

          a) Giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật nêu tại Điều 16 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP là giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành.

          b) Trường hợp hàng hoá thuộc danh mục nhập khẩu phải có giấy phép của Bộ Thương mại hoặc quản lư của các Bộ chuyên ngành (không thuộc danh mục cấm nhập khẩu), chưa quá thời hạn làm thủ tục hải quan nhưng chủ hàng không làm thủ tục nhập khẩu mà xin tái xuất th́ không xử phạt.

            c) Trường hợp nhập khẩu hàng hoá, vật phẩm vi phạm quy định tại Điều 16 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP nhưng do doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát nhanh thay mặt chủ hàng làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật, nếu người nhận hàng từ chối nhận và không có căn cứ xác định việc đưa hàng hoá vào Việt Nam theo yêu cầu của người nhận hàng th́ không xử phạt người nhận hàng. Tang vật vi phạm giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

          d) Biện pháp buộc tái xuất hoặc buộc đưa hàng hoá ra khỏi Việt Nam phải được thực hiện ngay tại cửa khẩu nhập;  

đ) Chỉ áp dụng h́nh thức phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép đối với giấy phép liên quan trực tiếp đến hàng hoá là tang vật vi phạm.

          Trường hợp tước quyền sử dụng giấy phép do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác cấp, trong thời hạn 05 (năm) ngày kể từ ngày ra quyết định xử phạt, cơ quan hải quan thông báo bằng văn bản cho cơ quan đó biết về việc xử lư của ḿnh.

 

          9. Đối với vi phạm quy định về kho ngoại quan, kho bảo thuế

Trường hợp hợp đồng thuê kho ngoại quan hết hạn mà chủ hàng không làm thủ tục gia hạn hợp đồng thuê kho theo quy định của pháp luật, không thông báo với cơ quan hải quan, không đưa hàng ra khỏi kho ngoại quan th́ bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP, hàng hoá sẽ bị xử lư theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005.

 

10. Đối với vi phạm của Kho bạc nhà nước, Ngân hàng Thương mại, tổ chức tín dụng khác và tổ chức, cá nhân có liên quan

a) Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP được áp dụng đối với trường hợp quá 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn trích tiền từ tài khoản mà Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Thương mại, tổ chức tín dụng khác không thực hiện trích, chuyển toàn bộ hoặc một phần tương ứng số tiền phải nộp từ tài khoản của tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính vào tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan hải quan mở tại Kho bạc Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan hải quan khi tại thời điểm nhận được quyết định cưỡng chế, tài khoản tiền gửi của người bị cưỡng chế có số dư đủ hoặc thừa so với số tiền thuế, tiền phạt.

b) Quy định tại khoản 3 Điều 19 không áp dụng đối với tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế. Tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế có hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin th́ xử phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 11 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

 

 

III. XỬ LƯ VI PHẠM ĐỐI VỚI CƠ QUAN HẢI QUAN, CÔNG CHỨC HẢI QUAN

 

1. Cơ quan hải quan phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của ḿnh gây ra trong khi thi hành công vụ; cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại th́ phải bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

2. Thủ tục, tŕnh tự giải quyết bồi thường thiệt hại thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

 

IV. THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ BẢO ĐẢM VIỆC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

 

          1. Khi áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

          a) Chỉ những người có thẩm quyền quy định tại Điều 23 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP mới có quyền ra quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính.

          b) Việc tạm giữ người phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho người bị  tạm giữ một bản.

          c) Chỉ tạm giữ người theo thủ tục hành chính trong trường hợp cần ngăn chặn, đ́nh chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự trong địa bàn hoạt động hải quan, gây thương tích cho công chức hải quan đang thi hành công vụ hoặc cần thu thập, xác minh những t́nh tiết quan trọng làm căn cứ để ra quyết định xử phạt hành chính trong các trường hợp: người vi phạm không có giấy tờ tuỳ thân, không biết rơ lai lịch nhân thân, không có nơi cư trú nhất định, cần xác minh làm rơ lai lịch nhân thân và những t́nh tiết quan trọng liên quan đến hành vi vi phạm hành chính.

          d) Việc tạm giữ người phải tuân thủ Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính ban hành kèm theo Nghị định 162/2004/NĐ-CP ngày 7 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ.

 

          2. Tạm giữ tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

          a) Khi áp dụng biện pháp tạm giữ tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải tuân theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP. Trong một lô hàng có hàng hoá là tang vật vi phạm và hàng hoá không phải là tang vật vi phạm th́ chỉ được tạm giữ hàng hoá là tang vật vi phạm. Trường hợp chưa xác định được có vi phạm xảy ra hay không th́ chỉ lấy mẫu hàng hoá để làm cơ sở xác định.

          Thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh không bị tạm giữ thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành. 

          b) Công chức hải quan được ra quyết định tạm giữ tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp phạm pháp quả tang, nếu không áp dụng biện pháp tạm giữ ngay th́ tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, đánh tráo để xoá dấu vết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định, người ra quyết định phải báo cáo và phải được sự đồng ư bằng văn bản của thủ trưởng trực tiếp là người được quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

c) Trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người nộp thuế, thanh tra thuế mà phát hiện có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế th́ Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Hải quan, Trưởng đoàn thanh tra thuế có thẩm quyền quyết định tạm giữ tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

 

          3. Khám người theo thủ tục hành chính

          Thẩm quyền và tŕnh tự khám người theo thủ tục hành chính phải tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 25 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

 

          4. Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính

          a) Thẩm quyền và tŕnh tự khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính phải tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 26 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

          b) Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật của các đối tượng được hưởng ưu đăi miễn trừ ngoại giao, miễn trừ lănh sự phải tuân theo các quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam đă kư kết hoặc gia nhập và phải có quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

          Khi có cơ sở khẳng định hành lư của người xuất cảnh, nhập cảnh được hưởng quyền ưu đăi, miễn trừ ngoại giao, miễn trừ lănh sự chứa đựng những đồ vật không được hưởng ưu đăi, hoặc chứa những đồ vật thuộc loại Nhà nước Việt Nam cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc không tuân thủ các chế độ kiểm dịch của Việt Nam, th́ việc khám xét thực hiện theo quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, trước mặt viên chức ngoại giao hoặc người được uỷ quyền đại diện cho họ.

          5. Khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật, phương tiện liên quan đến hành vi vi phạm

          a) Chỉ những người được quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP mới có thẩm quyền ra quyết định khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Việc khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Điều 49 Pháp lệnh Xử lư vi phạm hành chính và Điều 27 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

b) Trường hợp kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người nộp thuế, thanh tra thuế mà phát hiện có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế th́ Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Hải quan có thẩm quyền quyết định khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

 

V. THẨM QUYỀN XỬ PHẠT

 

1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cấp hải quan quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 28 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung phạt tiền quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.

Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính về hải quan th́ thẩm quyền xử phạt được xác định như sau:

a) Nếu h́nh thức, mức xử phạt được qui định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 28 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP, th́ thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

          b) Trường hợp mức tiền phạt, trị giá tang vật phương tiện bị tịch thu hoặc một trong các h́nh thức xử phạt hoặc biện pháp khắc phục hậu quả không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền th́ người đang thụ lư vụ việc vi phạm phải kịp thời chuyển vụ việc đó đến người có thẩm quyền xử phạt.

2. Những người quy định tại khoản 7 Điều 28 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế; chậm nộp tiền thuế; không thực hiện trích, chuyển tiền từ tài khoản của tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế vào tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm gửi của cơ quan hải quan mở tại Kho bạc Nhà nước quy định tại khoản 4 Điều 9, Điều 14, Điều 15 và điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định. Mức xử phạt được xác định theo quy định tại Nghị định số 97/2007/NĐ-CP, không hạn chế mức tối đa theo số tiền phạt.

3. Đối với vi phạm hành chính mà hồ sơ liên quan đến nhiều đơn vị hải quan, đơn vị nào phát hiện, lập biên bản đầu tiên th́ đơn vị đó ra quyết định xử phạt; những đơn vị liên quan có trách nhiệm chuyển giao đầy đủ các tài liệu cần thiết theo yêu cầu của đơn vị thụ lư vụ vi phạm;

Trường hợp vi phạm liên quan đến hàng hoá chuyển cửa khẩu do Chi cục Hải quan cửa khẩu phát hiện, nếu có dấu hiệu h́nh sự th́ Chi cục Hải quan cửa khẩu yêu cầu Chi cục Hải quan nơi mở tờ khai chuyển toàn bộ hồ sơ có liên quan để xử lư theo thủ tục tố tụng h́nh sự; trường hợp xử lư hành chính th́ Chi cục Hải quan cửa khẩu chuyển hồ sơ để Chi cục Hải quan nơi mở tờ khai xử phạt theo thẩm quyền, thông báo kết quả xử lư cho Chi cục Hải quan cửa khẩu biết.

          4. Khi phát hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực hải quan, người có thẩm quyền xử phạt cần đối chiếu với quy định của Bộ luật H́nh sự để xác định đó là vi phạm hành chính hay tội phạm. Trường hợp có dấu hiệu tội phạm th́ thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng h́nh sự. Đối với dấu hiệu của tội trốn thuế th́ trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện phải chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền để điều tra theo quy định.

          5. Đối với những vụ vi phạm có khung phạt tiền mức tối đa vượt thẩm quyền th́ Cục trưởng Cục Hải quan làm thủ tục chuyển hồ sơ sang Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân tỉnh) nơi phát hiện vi phạm để Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định xử phạt;

          Hồ sơ vụ vi phạm hành chính về hải quan khi chuyển sang Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phải kèm theo bản tóm tắt nội dung sự việc và ư kiến của Cục trưởng Cục Hải quan về biện pháp xử lư. Thủ tục bàn giao hồ sơ những vụ vi phạm hành chính về hải quan sang Uỷ ban nhân dân tỉnh phải thực hiện theo đúng quy định. Thời gian xem xét giải quyết ở mỗi cấp được quy định như sau:

          - Trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, Cục trưởng Cục Hải quan phải gửi hồ sơ, kiến nghị h́nh thức xử phạt vi phạm hành chính để Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định. Đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều t́nh tiết phức tạp hoặc trường hợp xét cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ th́ thời hạn trên là không quá 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Nếu có tang vật vi phạm bị tạm giữ, cơ quan hải quan vẫn phải có trách nhiệm quản lư; riêng tang vật là ngoại hối, kim khí quư, đá quư phải niêm phong và gửi Kho bạc Nhà nước;

          - Các vụ vi phạm hành chính do cơ quan hải quan chuyển sang Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết theo thẩm quyền, th́ sau khi có quyết định xử phạt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Cục trưởng Cục Hải quan nơi thụ lư vụ vi phạm hành chính chịu trách nhiệm thi hành quyết định xử phạt. Hàng tháng, Cục trưởng Cục Hải quan phải báo cáo kết quả việc thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu có) với Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

6. Đối với các vụ vi phạm do các đơn vị thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu phát hiện bắt giữ mà có mức phạt vượt quá thẩm quyền của Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu th́ thẩm quyền xử phạt do Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan thực hiện theo quy định. 

          7. Đối với các vụ vi phạm ngoài việc xử phạt c̣n phải truy thu thuế mà người có thẩm quyền xử phạt không có thẩm quyền truy thu thuế th́ Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi mở tờ khai ra quyết định truy thu theo yêu cầu của người có thẩm quyền xử phạt.     

 

 

VI. THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

 

          1. Khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan bằng h́nh thức cảnh cáo th́ người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ.

          2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực kể từ ngày kư, trừ trường hợp trong quyết định quy định ngày có hiệu lực khác. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải chấp hành quyết định xử phạt của cấp có thẩm quyền.

3. Việc ra quyết định xử phạt thực hiện theo quy định tại Điều 56 Pháp lệnh xử lư vi phạm hành chính, quy định tại Nghị định 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ.

          4. Thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 (mười) ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều t́nh tiết phức tạp th́ thời hạn ra quyết định xử phạt là 30 (ba mươi) ngày. Trong trường hợp xét cần có thêm thời gian xác minh, thu thập chứng cứ để ra quyết định xử phạt th́ cấp có thẩm quyền xử phạt phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của ḿnh bằng văn bản để xin gia hạn, thời hạn gia hạn không được quá 30 (ba mươi) ngày. 

5. Đối với những vụ việc vượt thẩm quyền xử phạt nhưng Cục trưởng Cục Hải quan chưa chuyển hồ sơ tới Chủ tịch UBND tỉnh do chưa xác minh xong, nếu cần gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt th́ Cục trưởng Cục Hải quan báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan để xin gia hạn.  

6. Đối với hành vi chậm nộp tiền thuế quy định tại Điều 15 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP th́ không lập biên bản và ra quyết định xử phạt mà người nộp thuế tự xác định số tiền phạt do chậm nộp thuế để nộp vào Ngân sách nhà nước. Quá 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế mà người nộp thuế vẫn chưa nộp đủ tiền thuế, tiền phạt th́ người có thẩm quyền quy định tại khoản 7 Điều 28 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ra thông báo về số tiền thuế nợ và số tiền phạt chậm nộp thuế tính đến thời điểm đó, đồng thời yêu cầu người nộp thuế, người bảo lănh nộp thuế nộp đủ tiền thuế, tiền phạt vào ngân sách.

          7. Viên chức ngoại giao, viên chức lănh sự lợi dụng quyền ưu đăi, miễn trừ ngoại giao để thực hiện hoạt động thương mại ngoài phạm vi chức năng của họ, vi phạm hành chính về hải quan th́ trước khi xử phạt, cần trao đổi với cơ quan ngoại giao.

          8. Quản lư tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính:

Toàn bộ tiền phạt thu được phải nộp vào tài khoản tạm giữ của cơ quan hải quan mở tại Kho bạc Nhà nước theo quy định hiện hành. Sau khi hết thời hạn khiếu nại hoặc khiếu nại đă giải quyết xong, căn cứ kết quả xử lư, cơ quan hải quan chuyển số tiền trên từ tài khoản tạm giữ vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.

          9. Miễn xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 38 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP

          a) Việc xem xét miễn xử phạt vi phạm hành chính chỉ áp dụng đối với trường hợp bị xử phạt về các hành vi vi phạm tại khoản 4 Điều 9, Điều 14, Điều 15 và Điều 19 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

          b) Hồ sơ miễn xử phạt vi phạm hành chính gồm có:

          - Đơn đề nghị miễn xử phạt vi phạm hành chính, trong đó nêu rơ căn cứ đề nghị miễn xử phạt;

          - Biên bản vi phạm hành chính;

          - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (nếu có);

          - Xác nhận của chính quyền địa phương về nội dung, thời điểm xảy ra thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc bất khả kháng khác.

          - Biên bản do người đại diện của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại phối hợp với chính quyền địa phương lập xác định giá trị tài sản, hàng hoá bị thiệt hại, nguyên nhân thiệt hại, giá trị tài sản, hàng hoá có thể thu hồi được;

          - Hồ sơ bồi thường thiệt hại được cơ quan bảo hiểm chấp nhận bồi thường (nếu có);

          - Hồ sơ quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải bồi thường (nếu có).

          c) Thủ tục, tŕnh tự xét miễn xử phạt vi phạm hành chính:

          - Hồ sơ đề nghị miễn xử phạt được nộp tại cấp có thẩm quyền quyết định miễn xử phạt quy định tại khoản 4 Điều 38 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP;

          - Trên cơ sở hồ sơ quy định, đối chiếu với điều kiện được miễn xử phạt vi phạm hành chính nêu tại khoản 2 Điều 38 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP, Cục trưởng Cục Hải quan, Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan xem xét và ra quyết định miễn xử phạt vi phạm hành chính.

          Trường hợp có nghi vấn về tính trung thực của hồ sơ miễn xử phạt th́ phải kiểm tra, xác minh trước khi quyết định.

          d) Không thực hiện việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt trong trường hợp đang xem xét miễn xử phạt vi phạm hành chính.

          10. Chuyển hồ sơ để xử lư h́nh sự

a) Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm th́ phải chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xem xét để khởi tố vụ án (đối với những tội quy định tại Điều 153, 154 Bộ luật H́nh sự) hoặc có văn bản kèm hồ sơ photocopy đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng h́nh sự có thẩm quyền xem xét khởi tố đối với trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật h́nh sự khác.

b) Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng h́nh sự thông báo về quyết định khởi tố vụ án h́nh sự, cơ quan hải quan phải chuyển hồ sơ gốc vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong thời hạn 05 (năm) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo.

c) Quá thời hạn 03 (ba) ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại Điều 103 Bộ luật Tố tụng H́nh sự mà cơ quan hải quan chưa nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền về việc khởi tố hay không khởi tố vụ án th́ người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 28 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật và thông báo cho cơ quan tố tụng h́nh sự biết về việc đă xử phạt vi phạm hành chính.

Thời hạn ra quyết định xử phạt được tính lại kể từ thời điểm cơ quan hải quan có quyền quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 4 Điều 39 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

 

Phần II

CƯỠNG CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH

TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN

 

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

1. Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có trách nhiệm chấp hành các quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan đă quá thời hạn tự nguyện chấp hành các quyết định này mà không tự nguyện chấp hành hoặc có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn và phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan theo quy định tại Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

          2. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan phải tuân thủ tŕnh tự, thủ tục và thẩm  quyền quy định tại Luật Quản lư thuế, Pháp lệnh Xử lư vi phạm hành chính, Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lư vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và Nghị định số 97/2007/NĐ-CP.

3. Đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế bao gồm

a) Người khai hải quan, người nộp thuế có nghĩa vụ chấp hành các quyết định hành chính nêu tại khoản 2 Điều 41 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP mà không chấp hành.

b) Kho bạc nhà nước, Ngân hàng, tổ chức tín dụng khác; tổ chức, cá nhân đang quản lư tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không trích nộp, khấu trừ tiền của đối tượng bị cưỡng chế vào tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan hải quan mở tại Kho bạc Nhà nước.

c) Người bảo lănh không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuế, tiền phạt thay cho người nộp thuế theo thông báo của cơ quan hải quan trong trường hợp người nộp thuế không nộp tiền thuế, tiền phạt.

d) Tổ chức, cá nhân nắm giữ tiền, tài sản của người nộp thuế không chấp hành quyết định cưỡng chế thu tiền, tài sản của người nộp thuế do họ nắm giữ.

đ) Tổ chức, cá nhân có liên quan không chấp hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan hải quan.

4. Trường hợp ra quyết định cưỡng chế

a) Đối với các quyết định hành chính về thuế (bao gồm các quyết định nêu tại điểm a, b, c và đ khoản 2 Điều 41 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP và các quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 4 Điều 9, Điều 14 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP):

- Quá 90 (chín mươi) ngày, kể từ ngày hết thời hạn chấp hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan mà cá nhân, tổ chức hoặc người bảo lănh của họ không tự nguyện chấp hành;

- Cá nhân, tổ chức chưa chấp hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan mà có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn.

b) Đối với các quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực hải quan: quá 10 (mười) ngày, kể từ ngày hết thời hạn chấp hành quyết định xử phạt mà cá nhân, tổ chO